T4. Th8 10th, 2022

 

TỊNH ĐỘ ĐI KINH KHOA CHÚ 2014 (Ging ln th 4)

PHM THỨ 6: PHÁT ĐI TH NGUYN

Phát Th Nguyn Rng Ln

Tp 198

Hòa thượng Tnh Không ch ging.

Ging ti: Hip Hi Giáo Dc Pht Đà Hng Kông.

Thi gian: Ngày 15 tháng 6 năm 2015.

Ban biên dịch: Hoa Tạng Huyền Môn.

Dịch gi: Diu Hip.

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

          

Kính chào chư vị Pháp sư, chư vị đồng học, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo: A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng Già, chư chúng trung tôn. (3 lần)

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 503, đếm ngược đến hàng thứ hai, nguyện thứ 36 trong 48 nguyện, 教化隨意願 “giáo hóa tùy ý nguyện” (nguyện tùy ý giáo hóa). Mời xem kinh văn:

【除其本願。為眾生故。被弘誓鎧。教化一切有情。皆發信心。修菩提行。行普賢道。雖生他方世界。永離惡趣。或樂說法。或樂聽法。或現神足。隨意修習。無不圓滿。若不爾者。不取正覺。】 “Trừ kỳ bổn nguyện, vị chúng sanh cố, phi hoằng thệ khải, giáo hóa nhất thiết hữu tình, giai phát tín tâm, tu Bồ-đề hạnh, hành Phổ Hiền đạo. Tuy sanh tha phương thế giới, vĩnh ly ác thú, hoặc nhạo thuyết pháp, hoặc nhạo thính pháp, hoặc hiện Thần Túc, tùy ý tu tập, vô bất viên mãn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh-giác” (Ngoài bổn nguyện của mình, còn vì chúng sanh, mặc áo giáp hoằng thệ, giáo hóa tất cả chúng sanh hữu tình, đều phát tín tâm, tu hạnh Bồ-đề, hành đạo Phổ Hiền. Tuy sanh đến thế giới phương khác, nhưng vĩnh viễn xa lìa đường ác, hoặc thích nói pháp, hoặc thích nghe pháp, hoặc hiện Thần Túc thông, tùy ý tu tập, đều được viên mãn. Nếu không được như thế thì con không giữ ngôi Chánh-giác).

Chương này là chương thứ 17, sau đây là nguyện thứ 36: 教化隨意 “Giáo hóa tùy ý” (Tùy ý giáo hóa). Xem ra câu này hình như rất dễ, nhưng trên thực tế thì rất khó. Chúng ta xem Chú Giải của Niệm lão, 下第三十六教化隨意願。如上願所明 “hạ đệ tam thập lục giáo hóa tùy ý nguyện. Như thượng nguyện sở minh” (nguyện thứ 36 sau đây: Nguyện tùy ý giáo hóa. Như nguyện trên đã nói rõ), đã nói rõ, 生彼國者,安居樂國,悉登補位,成等正覺 “sanh bỉ quốc giả, an cư Lạc quốc, tất đăng bổ vị, thành Đẳng Chánh Giác” (người sanh đến nước ấy, an cư cõi Cực Lạc, đều lên ngôi vị bổ xứ thành Đẳng Chánh Giác). Đây là hiện tượng rất bình thường ở Thế giới Cực Lạc, vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, tính khí mọi người sẽ không nông nổi, đều rất có lòng nhẫn nại, đều rất giữ được bình thản, không thành Phật thì không độ chúng sanh. Nhất định phải thành Phật rồi mới độ chúng sanh, vì sao vậy? Vì thật sự được đại tự tại rồi. Chưa thành Phật thì độ hóa chúng sanh sẽ có chướng ngại, rất nhiều chướng nạn.

Cho nên đây là có một loại, các ngài khác với đã nói ở phần trước, 但菩薩成佛各有願力 “đãn Bồ-tát thành Phật các hữu nguyện lực” (nhưng Bồ-tát thành Phật, mỗi vị có nguyện lực [riêng]), ngài mong muốn độ chúng sanh trước rồi mới thành Phật, như Địa Tạng Bồ-tát vậy, 地獄不空,誓不成佛 “Địa ngục bất không, thệ bất thành Phật” (Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật). Rất ít người phát nguyện này, cũng vô cùng vô cùng tuyệt vời, ngài đợi không kịp nữa, độ chúng sanh trước, sau đó mới thành tựu chính mình. Nhưng bản thân nhất định phải đại triệt đại ngộ, minh Tâm kiến Tánh, chưa triệt ngộ thì không được, không làm được, quý vị có rất nhiều chướng duyên, quý vị không thể đột phá, nhất định phải đại triệt đại ngộ mới được. Vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, tạm thời không thành Phật sớm như vậy, quý vị xem ngài sẵn lòng “mặc áo giáp hoằng thệ”. Áo giáp này là ví dụ, thời xưa ra chiến trường, tướng sĩ đều mặc áo giáp, đây là áo phòng bị dao kiếm. Phật dùng vật này để làm ví dụ, áo giáp là gì? Là hoằng nguyện, chính là đại nguyện độ chúng sanh. Có đại nguyện này, chưa thành Phật, đến Thế giới Cực Lạc, thấy A Di Đà Phật rồi, lại trở về lục đạo. Chúng ta nhất định phải hiểu điều này, có phải ngài trở về lục đạo để đầu thai không? Không phải, ngài là vì ứng hóa mà đến.

\Thấy A Di Đà Phật rồi, được oai thần bổn nguyện của A Di Đà Phật gia trì, chính là 48 nguyện này, nguyện nguyện đều không thể nghĩ bàn, mỗi nguyện đều tuyệt vời. Phật lực gia trì quý vị thế nào? Đọc 48 nguyện thì quý vị hoàn toàn hiểu rõ. Quý vị còn thoái chuyển nữa không? Tuyệt đối sẽ không [thoái chuyển]. Vì sao vậy? Vì A Di Đà Phật luôn chiếu cố quý vị, quý vị luôn liên lạc thông tin với A Di Đà Phật. Chỉ cần quý vị niệm đến công phu thành phiến, thì tin tức của A Di Đà Phật sẽ được đưa đến, chứng minh cho quý vị, nói với quý vị việc này là thật, không phải giả. Phật sẽ nói với quý vị, thọ mạng của con còn bao nhiêu năm, đợi khi thọ mạng của con hết thì ta đến đón con. Quý vị đã được ghi tên ở Thế giới Cực Lạc rồi, nơi đó có một chỗ ngồi của quý vị. Vì vậy, không chỉ là phân thân đến trái đất này của chúng ta, mà quý vị còn có khả năng phân vô lượng vô biên thân đi vào lục đạo của tất cả cõi nước chư Phật trong khắp pháp giới hư không giới, quý vị cũng có khả năng này. Tất cả cõi nước chư Phật đều có đại chúng oán thân đời quá khứ của chúng ta, sau khi đến Thế giới Cực Lạc thì thảy đều nhìn thấy, thảy đều nghe được, chúng ta có quan hệ gì với họ trong quá khứ đều [biết] rất rõ ràng, rất tường tận. Không có mối quan hệ thì không dễ độ, họ không tin quý vị; có mối quan hệ, bất luận là quan hệ tốt hay xấu, họ đều vui lòng học tập với quý vị. Cho nên Phật Pháp nói, Phật không độ người vô duyên, nhất định là độ người có duyên, đời quá khứ đều có mối quan hệ với chính mình, không có mối quan hệ thì đối diện bất tương phùng. [10:41]

\Cho nên ngài quay lại rồi, 返入穢土 “phản nhập uế độ” (trở vào uế độ), uế độ này chính là trái đất của chúng ta, đến đây để làm gì? 普利群生,教化有情 “Phổ lợi quần sanh, giáo hóa hữu tình” (Phổ lợi chúng sanh, giáo hóa hữu tình). Ví dụ rõ ràng nhất, những vị Pháp sư xuất gia, những vị Cư sĩ tại gia. Người xuất gia, giống như lão Hòa thượng Đế Nhàn, Pháp sư Viên Anh, Pháp sư Đàm Hư, đây là ở Hong Kong của chúng ta, năm xưa các ngài ở đời giảng Kinh dạy học. Pháp sư Viên Anh giảng Kinh Lăng Nghiêm hơn 100 lần, là chuyên gia Lăng Nghiêm. Đàm lão đến Hong Kong mở Viện học Phật Hoa Nam, vào lúc đó đào tạo không ít học viên, tuổi tác của học viên xấp xỉ với tôi, trong số học trò của ngài, tôi quen biết mười mấy, hai mươi người. [Khi] tôi đến Hong Kong thì ngài đã vãng sanh hai năm, không có duyên, không gặp được ngài. Cư sĩ tại gia, như những vị đại Cư sĩ Hạ Liên Cư, Hoàng Niệm Tổ, Lý Bỉnh Nam, Mai Quang Hi, cũng là cả đời thường không rời giảng tọa, đều dạy học ở đây, đây chính là phổ lợi quần sanh, giáo hóa hữu tình, dùng phương pháp giáo hóa. Phật giáo là giáo dục chủ yếu của nhân loại, là giáo học quan trọng của nhân loại, là giáo hóa tôn kính của nhân loại.

Năm xưa khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, tất cả Kinh mà Phật giảng, tất cả pháp mà Phật thuyết là từ đâu ra? Do ai dạy Ngài? Không ai dạy. Tất cả Kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong 49 năm, không có bộ Kinh nào là có người dạy Ngài, Ngài làm thế nào giảng ra vậy? Chúng tôi thì tin rằng, không có thầy mà tự thông, người xưa nói 讀書千遍,其義自見 “độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (đọc sách ngàn lần, tự hiểu nghĩa kia), tự hiểu chính là khai ngộ, không có ai dạy Ngài, tự Ngài hoát nhiên khai ngộ, bỗng nhiên hiểu rõ rồi. Sau khi hiểu rõ, tìm một người thầy chứng minh cho quý vị, có phải thật sự khai ngộ hay không. Sau khi khai ngộ, những gì quý vị nói giống hệt với người xưa nói, không có khác biệt. Tuy quý vị chưa học qua những điều của người xưa, nhưng hiện nay mở bản Kinh ra, độ sâu mà quý vị khế nhập được, sự thấu triệt mà quý vị giảng giải không khác với Đại đức xưa, đây là gì? Thật sự khai ngộ rồi.

Hiện nay, người như vậy ít rồi, không thể nói không có; có, nhưng chúng ta không nhận ra, họ cũng không khoa trương, đa phần đều ẩn cư ở rừng núi, không ai biết. Như lão Hòa thượng Hải Hiền trước đây, 112 tuổi, niệm một câu Phật hiệu hết 92 năm, không ai biết. Khi ngài vãng sanh mới biết, chúng ta mới nghe nói. Quan sát tỉ mỉ cuộc sống của ngài trong đĩa phim này, do Đệ tử của ngài đã viết một bộ Vĩnh Tư Tập về ngài, từng li từng tí trong đó, chúng ta đọc kỹ, quan sát tỉ mỉ gia ngôn của lão Hòa thượng, phát hiện lão Hòa thượng không phải là phàm phu, mà là Bồ-tát tái lai, vì chúng ta mà thị hiện, người thế gian không làm được. 112 tuổi, đầu óc minh mẫn, không chút mê hoặc, thể lực không suy yếu, còn leo cây hái trái hồng cúng dường mọi người. Cửa chùa ngài [có] một cây hồng lớn, có Cư sĩ đến, vào trong chùa thỉnh giáo ngài, quý vị xem, ngài leo cây để hái trái hồng. Tuổi tác lớn như vậy [mà] không có già khổ, ngài không già, không có bệnh khổ, không có chết khổ, khi ra đi nói đi liền đi. Không ai biết, đi lúc nửa đêm, mọi người đều ngủ hết, ngài niệm Phật ra đi rồi. Sáng hôm sau vừa thức dậy thì thấy lão Hòa thượng đã ra đi rồi, quý vị xem tự tại biết mấy. Hơn một tháng trước, ngài đã biết hôm nào ngài ra đi, cho nên ngài đều đến thăm hỏi bạn cũ, đồng tham cũ, từ biệt cuối cùng, ghé thăm những đạo tràng nhỏ mà trước đó ngài từng ở. Tự tại như thế! Người tái lai. Ngài từ đâu đến vậy? Tôi tin là từ Thế giới Cực Lạc đến, trong kỳ biểu pháp này, ngài làm viên mãn, trở về rồi. Có trở lại nữa không? Chắc chắn sẽ trở lại, tâm từ bi sâu nặng, chúng sanh khổ như vậy, sao ngài có thể không trở lại?

Đến thế gian này, 承彌陀願力加持,教化隨意,無不圓滿 “thừa Di Đà nguyện lực gia trì, giáo hóa tùy ý, vô bất viên mãn” (được nguyện lực của đức Di Đà gia trì, tùy ý giáo hóa, đều được viên mãn). Chúng ta xem lão Hòa thượng Hải Hiền, học Phật 92 năm, làm tấm gương tốt nhất cho Đệ tử nhà Phật, làm tấm gương tốt nhất cho đồng tu niệm Phật. Học Phật trong thời kỳ mạt pháp này, thật sự muốn được thành tựu thì phải học tập theo ngài. Điểm mạnh của ngài là gì? Buông xuống vạn duyên. Cả đời chỉ một câu Phật hiệu, ngày đêm không gián đoạn, đây chính là công phu của ngài. Có lúc niệm ra tiếng, thời gian niệm ra tiếng tương đối ít, thời gian niệm thầm nhiều. Cả đời lão Hòa thượng chưa hề nổi giận, nói rõ điều gì? Ngài không có tâm sân hận. Cho dù quý vị đắc tội ngài, ngài cũng không trách quý vị; quý vị ức hiếp ngài, làm nhục ngài, ngài cũng cười tít mắt với quý vị. Không có tâm sân hận, không có tâm tham, không có dục vọng, hằng ngày ăn no mặc ấm, có ngôi nhà tranh nhỏ có thể che mưa che gió thì đủ rồi, rất mãn nguyện. Làm tấm gương cho người khác xem, cho nên ngài được bổn nguyện của đức Di Đà gia trì, tùy ý giáo hóa, chẳng gì không viên mãn.

Tiếp theo giải thích về áo giáp cho chúng ta, 古時戰士對敵作戰時所被服之物,用以遮衛身體,防衛矢石等 “cổ thời Chiến sĩ đối địch tác chiến thời sở phi phục chi vật, dụng dĩ già vệ thân thể, phòng vệ thỉ thạch đẳng” (là vật mà Chiến sĩ mặc khi đương đầu tác chiến với kẻ địch vào thời xưa, dùng để bảo vệ thân thể, ngăn ngừa mũi tên và đá, v.v…), chữ “thỉ” này là tên, mũi tên bắn. 近代之避彈衣亦是此類 “Cận đại chi tị đạn y diệc thị thử loại” (Áo chống đạn thời cận đại cũng là loại này), hiện nay có áo chống đạn, làm tinh tế hơn so với thời xưa. 菩薩入生死,降魔軍,則以自之弘深誓願為鎧甲 “Bồ-tát nhập sanh tử, hàng ma quân, tắc dĩ tự chi hoằng thâm thệ nguyện vi khải giáp” (Bồ-tát đi vào sanh tử, hàng phục ma quân thì dùng thệ nguyện sâu rộng của mình làm áo giáp), thệ nguyện này chính là 眾生無邊誓願度,煩惱無盡誓願斷,法門無量誓願學,佛道無上誓願成 “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, Bồ-tát trở lại thế gian chính là làm tấm gương này cho chúng ta xem. Ở đây nói hàng phục ma quân, đây là một ví dụ. Hiện nay khắp nơi đều có ma, hễ chướng ngại Phật Pháp thì đều là ma, dân số nhiều, thế lực lớn, giống như đại đội quân vậy. Bồ-tát làm thế nào? Dùng thệ nguyện sâu rộng làm áo giáp. 弘誓之心堅逾鐵石 “Hoằng thệ chi tâm kiên du thiết thạch” (Tâm hoằng thệ vững chắc hơn sắt đá), bất luận gặp phải khó khăn gì, chướng ngại nào, cũng tuyệt đối chẳng quay đầu, tuyệt đối không chùn bước, dũng mãnh tiến về phía trước, 可以此心出入生死之陣 “khả dĩ thử tâm xuất nhập sanh tử chi trận” (có thể dùng tâm này ra vào trận sanh tử).

至於所教化者,首云皆發信心 “Chí ư sở giáo hóa giả, thủ vân giai phát tín tâm” (Còn đối với những người được giáo hóa, trước tiên nói đều phát tín tâm), đây là giáo dục của Phật giáo, mục đích đầu tiên là giúp họ có niềm tin. Việc này, nói ra thì dễ, làm thì cũng không dễ, mấy người chịu tin? Vào thời xưa, một thế kỷ trước, 100 năm trước, người thời đó dễ dạy. Chúng tôi là trẻ em, ba bốn tuổi, năm sáu tuổi, chúng tôi ở dưới quê, người thôn quê thật thà, nghe lời, vẫn còn nếp sống của người xưa, hiếu thuận cha mẹ, kính trọng sư trưởng, có lễ phép, có quy tắc, nhưng trong thành thị thì không còn nữa. Thôn quê ấy của chúng tôi được lợi ích từ phái Đồng Thành, văn học hai triều đại Minh và Thanh, phái Đồng Thành được đặc biệt xem là hưng thịnh, Đồng Thành cách quê hương của chúng tôi rất gần, cho nên trẻ em dưới quê có cơ hội đi học, chú trọng đi học, có tư thục. Tuổi tác chúng tôi còn quá nhỏ, chúng tôi khoảng sáu bảy tuổi vào tư thục, tôi chỉ nhớ là tôi chỉ học ở tư thục một năm thì trường học đã thay đổi chế độ, không còn tư thục nữa. Thay đổi thành trường học ngắn hạn, trường học ngắn hạn là hai năm tốt nghiệp. Vào lúc đó, tôi nhớ còn có môn học Công Dân, có một phần tài liệu giảng dạy là Công Dân, nội dung trong đó là luân lý đạo đức. Tôi đi học ở Phúc Kiến là năm 10 tuổi, 10 tuổi có, năm 11 tuổi không còn nữa, năm 11 tuổi, môn Công Dân lại đổi thành môn Xã Hội, dần dần đánh mất văn hóa truyền thống Trung Hoa rồi. Bản thân chúng tôi chưa học qua, chỉ nhìn thấy được, có ấn tượng này. Sự cắm rễ giáo dục này, chúng tôi không gặp được, sau này học được đều nhờ vào tự học. Thời kỳ kháng chiến, chúng tôi là học sinh lưu vong, không có nơi để đi học, một nhà bốn người ở bốn nơi, rất khổ, rất khó sống qua ngày. Cuối thời kỳ kháng chiến, tìm được một trường học ở Quý Châu, an định hơn chút, có thể học hành đàng hoàng. Một năm sau, kháng chiến thắng lợi. Thắng lợi thì trường học giải tán rồi. Trở về quê nhà, nội chiến lại nổ ra, lại phải chạy nạn, năm đó tôi 20 tuổi. Cho nên cả đời sống trong tai nạn, biết được văn hóa truyền thống Trung Hoa tốt, nhưng không có cơ hội học tập.

\Những năm đến Đài Loan được xem là an định rồi, may mắn biết được Tiên sinh Phương Đông Mỹ, Đại sư Chương Gia, lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Thầy Phương giới thiệu Phật Pháp cho tôi, nói với tôi: “Thích Ca Mâu Ni là nhà Triết học vĩ đại nhất trên thế giới”, tôi học Triết học với thầy, “Triết học Kinh Phật là Triết học đỉnh cao nhất trên toàn thế giới, học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của đời người”. Từ chỗ này, tôi mới nhận thức Phật Pháp, ban đầu cho đó là mê tín, cho đó là tôn giáo. Quen biết Đại sư Chương Gia, ngày đầu tiên Đại sư Chương Gia liền nói với tôi: Con muốn học Phật, trước tiên phải hiểu rõ thầy, con không hiểu rõ thầy, con học tập sẽ đi đường rẽ, hiện nay nói là con sẽ đi đường vòng. Ngài bảo tôi đọc Thích Ca Phổ, Thích Ca Phương Chí, do người đời nhà Đường viết, chính là Truyện Ký của Thích Ca Mâu Ni Phật, là trích ra từ trong Kinh điển rồi biên soạn, biên soạn rất hay.

Sau khi chúng tôi đọc xong mới thật sự hiểu rõ, Thích Ca Mâu Ni Phật không phải như người thế tục đã tưởng tượng, không phải. Thân phận của Ngài, nếu dùng lời hiện nay để nói, là nhà giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa, là thân phận như vậy, bản thân Ngài là tình nguyện viên của giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa. Ngài dạy học không thu học phí, người đến thì không từ chối, người đi thì không giữ lại, không phân biệt quốc tịch, không phân biệt chủng tộc, cũng không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo, quý vị muốn theo Ngài học, Ngài thật sự dạy quý vị. Ngài dạy quý vị, dạy điều gì? Mục tiêu của giáo dục Phật Đà là giúp tất cả chúng sanh lìa khổ được vui, chúng ta có cần sự giáo dục này không? Không chỉ lìa khổ được vui, mà còn nói với chúng ta “lìa cứu cánh khổ, được cứu cánh vui”, cứu cánh là viên mãn, là triệt để, thật sự đạt được. Cứu cánh khổ là gì? Là lục đạo luân hồi. Quý vị rời khỏi lục đạo luân hồi thì hoàn toàn lìa khổ rồi, về sau không còn chịu khổ nữa, lìa cứu cánh khổ; được cứu cánh vui, cứu cánh vui là Thế giới Cực Lạc. Cả đời Thích Ca Mâu Ni Phật làm gì? Giới thiệu Thế giới Tây Phương Cực Lạc cho chúng ta, bất luận là từ lý luận, từ chân tướng sự thật, từ phương pháp, hay từ quả đức, Ngài cũng nói hết sức rõ ràng, vô cùng tường tận. Nếu Ngài thật sự chưa đi đến, thật sự chưa nhìn thấy thì sẽ không nói ra được, Ngài không gạt chúng ta. Đây là Phật đến thế gian này làm gì? Khiến cho tất cả chúng sanh lìa cứu cánh khổ, được cứu cánh vui.

Cho nên quý vị học Phật thì học được điều gì? Pháp hỷ sung mãn, quý vị thật sự được thọ dụng rồi. Nếu quý vị không có được niềm vui, quý vị vẫn còn ngăn cách đối với việc học Phật, thì quý vị chưa thấu triệt, vì sao vậy? Vì chưa có hiệu quả. Hiệu quả chính là vui vẻ, pháp hỷ sung mãn. Khổ từ đâu mà có? Từ mê mà có, quý vị không hiểu rõ chân tướng sự thật, mê hoặc điên đảo, do đó quý vị nghĩ sai rồi, nói sai rồi, làm sai rồi, chiêu cảm quả khổ. Vui từ đâu [có]? Vui từ giác ngộ mà có, chính là làm sáng tỏ tất cả rồi. Sau khi hiểu rõ thì thế nào? Vượt khỏi rồi. Hiểu rõ chân tướng sự thật, chân tướng sự thật này đều là giả, 凡所有相皆是虛妄 “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (những gì có tướng đều là hư vọng), thật sự làm sáng tỏ là giả rồi, thì quý vị không để trong tâm, thì quý vị không chạy theo những thứ đó, có những vật chất ấy để hưởng thụ thì rất tốt, cũng không cần phải cự tuyệt; không có thì không cần mong cầu, tự tại. Đạt được rồi, không có tâm hoan hỷ; mất đi rồi, cũng không có tâm nuối tiếc, không có. Có thì rất tốt, không có cũng rất tốt, họ mới thật sự được vui.

Lại nghĩ đến, muốn vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, điều đầu tiên là được trường thọ, vô lượng thọ. Không như thọ mạng ở thế gian này rất ngắn, làm việc gì cũng làm không thành, thời gian không đủ dùng. Ở Thế giới Cực Lạc [được] vô lượng thọ, bất luận làm gì cũng có thành tựu, tuyệt đối có sự thành tựu mãn nguyện. A Di Đà Phật [có] vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, gia trì cho mọi người, giúp mọi người trở về Tự Tánh, trở về Tự Tánh thì viên mãn rồi. Vào đời nhà Đường của Trung Hoa, Đại sư Lục tổ Huệ Năng trở về Tự Tánh, trở về Tự Tánh chính là đại triệt đại ngộ, minh Tâm kiến Tánh, kiến Tánh thành Phật. Tự Tánh vĩnh viễn là thanh tịnh, không ô nhiễm. Ở nơi này của chúng ta ô nhiễm, mỗi phút mỗi giây đều đang ô nhiễm, không chỉ thân thể tiếp nhận tất cả sự ô nhiễm, mà tinh thần cũng tiếp nhận. Ở Thế giới Cực Lạc thì không có, tinh thần, vật chất đều không có ô nhiễm, thanh tịnh, bình đẳng, mọi người đều là giác thì không mê, đều là Chánh-giác.

\Ngàn Kinh vạn Luận của Thế Tôn, đó là hằng thuận chúng sanh, cuối cùng đều chỉ về Tịnh Độ, đó là bổn hoài của Phật, Ngài đến thế gian chỉ vì một sự việc này, vì điều này mà đến. Ai có duyên, ai làm rõ ràng, làm sáng tỏ rồi, tin tưởng, không nghi ngờ, phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ thì họ thành tựu. Độ một người ra một người, một người có tín nguyện thì một người được thành tựu, độ một người. Các ngành các nghề ở thế gian này của chúng ta, bất luận là thân phận nào, trong đó đều có Phật Bồ-tát, các Ngài dùng đủ các thân phận khác nhau để giúp chúng ta, phải biết ơn, thật sự được lợi ích. Lợi ích, thứ nhất chính là đều phát tín tâm, họ tin rồi. Tiến thêm một bước khuyên họ, khuyên họ phát nguyện; tin chúng ta được vãng sanh. 信為道元功德母 “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu” (Tin là nguồn đạo, là mẹ của công đức), “đạo” giống như dòng nước chảy, “nguyên” là đầu nguồn, đây là mẹ của công đức, mẹ có thể sanh ra, chọn ý nghĩa này, niềm tin có thể sanh ra vô lượng vô biên công đức. Quý vị xem, nếu quý vị đã tin thế giới Tây Phương Cực Lạc, phát nguyện cầu vãng sanh, thì công đức này lớn biết mấy, nói không hết, đây là công đức rốt ráo viên mãn.

本經小本曰:為諸眾生,說是一切世間難信之法 “Bổn Kinh tiểu bổn viết: Vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp” (Tiểu bổn của Kinh này nói: Vì các chúng sanh, thuyết pháp mà tất cả thế gian khó tin này). Pháp môn này thật sự khó tin, tôi làm chứng cho mọi người. Tôi học Phật là vào cửa từ Triết học, cho nên tuy tôi không bài xích Tịnh Tông, nhưng trên thực tế thì tôi không tiếp nhận. Năm xưa, Pháp sư Sám Vân dạy tôi, tôi không tiếp nhận. Ở Đài Trung 10 năm, chắc là lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam có năm sáu lần khuyên tôi học Tịnh Độ, tôi cũng không tiếp nhận. Tuổi trẻ, theo đuổi những điều viễn vông, say mê đối với đại Kinh đại Luận. Tôi giảng Kinh Hoa Nghiêm được một nửa, nhìn thấy trong Kinh văn: đức Văn Thù, Phổ Hiền phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, nhìn thấy 53 lần tham vấn của ngài Thiện Tài, tôi đã thấy rõ, tôi có tín tâm với Tịnh Độ rồi, không bài xích. Thật sự buông xuống hoàn toàn triệt để, một lòng một dạ thâm nhập một môn cầu sanh Tịnh Độ là trong vài năm gần đây, 85 tuổi quay đầu. Cũng được sống lâu, 85 tuổi quay đầu, nếu không được sống lâu, trước 85 tuổi ra đi thì tôi không có tín tâm về Tịnh Độ; hay nói cách khác, không nắm chắc vãng sanh, Phật Pháp này giúp chúng tôi không mất quả vị trời người, nhưng không ra khỏi lục đạo luân hồi, đời sau ở đâu? Đời sau có thể làm người, nếu may mắn thì có thể sanh lên trời Dục Giới. Không phải là việc tốt, không ra khỏi luân hồi thì không phải là việc tốt. Đời này không tạo nghiệp gì thì sẽ không đọa ba đường ác, đời sau thì không dám chắc, sự cám dỗ tiêu cực bên ngoài quá lớn, vừa rơi vào đó chính là ba đường ác, một khi vào ba đường ác thì phiền phức rất lớn, đến đời nào kiếp nào quý vị mới có thể ra khỏi? Điều này rất đáng sợ, nhất định phải biết điều này. [Trong] Tiểu Bổn, Phật nói rất rõ ràng, tất cả chư Phật Như Lai đến thế gian này, đều là 說是一切世間難信之法 “thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp” (thuyết pháp mà tất cả thế gian khó tin này), làm tấm gương cho chúng ta. Chúng ta thấy được ba vị ở chùa Lai Phật, cộng thêm lão Hòa thượng Lão Đức, bốn vị, tấm gương tốt. Bốn vị này có thể thành tựu, vì sao chúng ta không thể thành tựu?

Tiếp theo nói, 蓋此淨土法門極圓極頓 “cái thử Tịnh Độ Pháp môn cực viên cực đốn” (vì Pháp môn Tịnh Độ này cực viên cực đốn), đây là thật, viên mãn đến tột cùng. “Đốn” là nhanh chóng, đốn siêu, không có cấp bậc, nhanh chóng tột bậc rồi. Quý vị xem, phàm phu tu đến Pháp thân Bồ-tát phải tu vô lượng kiếp, [nhưng] tu Pháp môn này một đời liền thành tựu, nhanh biết mấy! Tôi xem đĩa phim của lão Hòa thượng Hiền công, phán đoán của tôi, cách nhìn của tôi, lão Hòa thượng xuất gia năm 20 tuổi, Sư phụ chỉ dạy ngài một câu “Nam mô A Di Đà Phật”, nói với ngài cứ niệm liên tục, hiểu rõ rồi không được nói lung tung, không thể nói. Cả đời ngài nghe lời, thành thật, ngài làm được lời Sư phụ dạy rồi. Bảo ngài cứ niệm liên tục một câu Phật hiệu, điều này dễ hiểu; nói hiểu rõ rồi không được nói lung tung, không thể nói, lời nói này không dễ hiểu. Hiểu rõ điều gì? Minh Tâm kiến Tánh, đại triệt đại ngộ, hiểu rõ là nói đến sự việc này. Ngài có làm được không? Có, tôi ước đoán chắc là vào năm 40 tuổi. 20 tuổi ngài bắt đầu niệm Phật, thông thường niệm đến công phu thành phiến là khoảng 3 năm, 5 năm, cũng tức là trước năm 25 tuổi thì công phu ngài đạt đến thành phiến; thêm 5 năm đến 10 năm công phu, 30 tuổi, năm 30 tuổi thì ngài được Sự Nhất tâm Bất loạn; năm 40 tuổi được Lý Nhất tâm Bất loạn, Lý Nhất tâm Bất loạn chính là minh Tâm kiến Tánh, chính là đại triệt đại ngộ. Lão Hòa thượng đầy đủ sáu loại thần thông, lão Hòa thượng thật sự là điều gì cũng biết, chỉ là không nói, đây là tuân theo lời dạy của Sư phụ, người trí giữ mình. Nếu ngài nói ra thì người khác không tin, không có ai tin, nói ngài [dùng] tà thuyết mê hoặc mọi người, vậy thì phiền phức của ngài đến rồi. Vì sao vậy? Vì ngài chưa từng đi học, không biết chữ, nhưng thế nào? Điều gì cũng biết. Nếu nói điều này ra ngoài thì sẽ gây ra sóng gió rất lớn, dẫn tới phiền phức rất lớn, không thể nói. Sau khi ngài vãng sanh, chúng ta quan sát tỉ mỉ những bản tin này thì sẽ phát hiện, quý vị sẽ tin, chính ngài nói “điều gì tôi cũng biết”, lời nói này là thật, không phải giả. Điều gì cũng biết chính là minh Tâm kiến Tánh. Cho nên Tịnh Tông viên đốn đến tột cùng. 超情離見 “Siêu tình ly kiến”, tình là Vọng tưởng, vượt khỏi rồi. Người thế gian chúng ta đều có Vọng tưởng, siêu tình chính là vượt khỏi lục đạo, vượt khỏi mười pháp giới. Ly kiến, kiến chính là Kiến hoặc, Thân kiến, Biên kiến, Kiến thủ kiến, Giới thủ kiến, Tà kiến. Nửa bộ sau của Kinh Kim Cang, ý nghĩa sâu hơn, nửa bộ đầu là lìa tướng: Ngã tướng, Nhân tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng; lìa tướng, [là] A-la-hán; nửa bộ sau là lìa kiến: Ngã kiến, Nhân kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến, chính là ý niệm Phân biệt này đều không còn nữa, đây là Bồ-tát minh Tâm kiến Tánh. Không phải là Tiểu pháp, 故為一切世間難信之法 “cố vi nhất thiết thế gian nan tín chi pháp” (nên là pháp khó tin của tất cả thế gian).

又小本曰 “Hựu Tiểu Bổn viết” (Tiểu Bổn lại nói), Tiểu Bổn chính là Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ là Đại bổn trong Tịnh Tông, Tiểu Bổn là Kinh A Di Đà. Hợp lại với Kinh Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm là Đại Kinh, Kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn, Kinh A Di Đà là Tiểu Bổn, đây chính là nâng cao Tịnh Độ Tông ngang bằng Hoa Nghiêm rồi. Hoa Nghiêm là đại pháp viên đốn, nói rõ Kinh này cũng là đại pháp viên đốn. Đề Kinh của Tiểu Bổn, đề Kinh ban đầu, 汝等眾生當信是 “nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị” (chúng sanh các ông nên tin), tiếp theo 《稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經》 “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này), đây là đề Kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói, chính là Kinh A Di Đà. Đại sư La Thập có trí huệ, ngài phiên dịch không dùng đề mục ban đầu, mà dùng danh hiệu A Di Đà Phật làm đề mục, gọi là Kinh A Di Đà, dùng đề mục này hay, dùng hay vô cùng. Chúng ta nhất định phải biết, Kinh này, Phật hiệu này, Pháp môn này là được tất cả chư Phật hộ niệm, cho nên chúng ta niệm tiếng Phật hiệu này liền được tất cả chư Phật hộ niệm, quý vị phải thật sự tin.

\Quý vị thật sự hiểu, một chút nghi ngờ cũng không có, vì sao vậy? Vì tất cả danh hiệu của chư Phật, chung quy chính là A Di Đà Phật, cho nên A Di Đà Phật là danh hiệu của tất cả chư Phật, không sót một vị nào. Quý vị biết được ý nghĩa này thì quý vị sẽ hiểu được. “A Di Đà Phật” hoàn toàn là dịch âm từ tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung, “A” dịch là “vô”, “Di Đà” dịch là “lượng”, “Phật” dịch là “giác”, ý nghĩa của tiếng Trung là “vô lượng giác”. Vô lượng giác là ai? Là Phật. Vị Phật nào không vô lượng giác? Đều là vô lượng giác. Cho nên câu danh hiệu “A Di Đà Phật” này đã niệm hết tất cả danh hiệu rồi, không sót danh hiệu nào; hết thảy Kinh Pháp mà tất cả chư Phật đã nói, cũng ở ngay trong một câu danh hiệu này, “vô lượng giác”. Cho nên Tam Tạng 12 bộ được kết tập ở Ấn Độ, hết thảy Kinh điển mà tất cả chư Phật Bồ-tát trong mười phương ba đời đã thuyết đều ở trong câu Phật hiệu này. Niệm một câu Phật hiệu này thì niệm hết tất cả Kinh rồi, không sót bộ Kinh nào, niệm hết tất cả Phật rồi, đây gọi là không thể nghĩ bàn! Thế Tôn đã đặt tên Kinh này cho chúng ta là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức”, ai xưng tán? Tất cả chư Phật xưng tán, tất cả chư Phật hộ niệm. Lại nói: 汝等皆當信受我語,及諸佛所說 “Nhữ đẳng giai đương tín thọ Ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết” (Các ông đều nên tin nhận lời của Ta, và lời chư Phật đã nói). Đây là Thích Ca Mâu Ni Phật khẩn thiết mà nói với chúng ta, khuyên chúng ta cần phải tin, tiếp nhận lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật. Nói chi tiết về Thế giới Cực Lạc chính là Kinh Vô Lượng Thọ, nói sơ lược chính là Kinh A Di Đà. Không chỉ là được Thích Ca Mâu Ni Phật nói, mà Ngài nói với chúng ta, còn được chư Phật nói. Tất cả chư Phật trong mười phương ba đời giảng Kinh dạy học, không vị nào không giảng Kinh Di Đà, không vị nào không giảng Kinh Vô Lượng Thọ, không có vị nào không giới thiệu Thế giới Cực Lạc.

是以極樂大士宏化十方,咸以勸信為首也 “Thị dĩ Cực Lạc Đại sĩ hoành hóa thập phương, hàm dĩ khuyến tín vi thủ dã” (Cho nên Đại sĩ ở Cực Lạc giáo hóa rộng khắp mười phương, đều lấy khuyên tin làm điều đầu tiên). Trước tiên, khuyên người khác chính là phải khuyên họ tin. Vì sao phải tin, phải giảng rõ ràng, giảng tường tận về đạo lý này. Thật sự khó tin. Tôi học Phật, đã học 30 năm, giảng đến Kinh Hoa Nghiêm mới hoàn toàn tiếp nhận, tiếp nhận nhưng không làm. Đến năm 85 tuổi, tôi buông Hoa Nghiêm rồi, chưa giảng xong Hoa Nghiêm, không giảng nữa, chuyên giảng bộ Kinh này, Chú Giải này. Vì sao vậy? Vì bộ Kinh và Chú Giải này là tinh hoa của Kinh Hoa Nghiêm; đọc bộ Kinh này, học bộ Kinh này thì không cần tìm thêm Hoa Nghiêm nữa, bộ Hoa Nghiêm quá lớn rồi. Trước đây tôi giảng chi tiết, đã giảng hơn bốn ngàn giờ, giảng đến Sơ trụ trong Phẩm Thập Trụ, vẫn chưa giảng đến Nhị trụ, giảng đến Sơ trụ, là một phần năm của cả bộ Kinh. Quý vị liền có thể nghĩ được, như tiến độ của tôi, giảng xong một bộ Kinh cần thời gian bao lâu? Hai mươi ngàn giờ. Đại học hiện nay có khóa trình nào có hai mươi ngàn giờ không? Kinh Hoa Nghiêm cần có hai mươi ngàn giờ, không dễ dàng. Tôi sợ [đến] tương lai khi quay đầu thì đời này sẽ không thể vãng sanh, vẫn làm chuyện lục đạo, vậy thì thật sự sai rồi. Nhanh chóng quay đầu, vẫn còn kịp. Tôi nhớ hôm tôi quay đầu lại là tiết thanh minh, ngày lễ thanh minh năm 85 tuổi, tôi đã đưa ra quyết định này, dừng lại Kinh Hoa Nghiêm, chuyên giảng Kinh Vô Lượng Thọ, chuyên giảng bộ Khoa Chú này, bộ Khoa Chú này có thể độ tất cả chúng sanh, khiến chúng ta sanh khởi tín tâm, sanh khởi nguyện tâm đối với Tịnh Tông.

\Hiện nay còn có một quyển sách, đối với hai chữ “tín nguyện”, khiến quý vị không thể không tin, đã giải thích tường tận cho quý vị về tất cả nghi hoặc của quý vị đối với Phật Pháp, bất luận là Tông môn hay Giáo hạ, Hiển giáo hay Mật giáo, nhất đại tạng giáo, 84 ngàn Pháp môn, mỗi phương diện đều nói đến, thật tuyệt vời, quá hiếm có, quyển sách này chính là Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ. Hai ngày trước, Hồ Tiểu Lâm đến đây, cậu ấy nghe được vài đoạn, bội phục đến năm vóc sát đất, đem băng ghi âm, sách này đến Bắc Kinh rồi. Người này hiếm có, nghe vài đoạn thì cậu ấy nhận biết được, cậu ấy biết bảo vật. Ở chỗ chúng tôi rất nhiều người, hằng ngày đều mở, người thật sự biết bảo vật thì tôi vẫn chưa phát hiện được người nào. Phương pháp đơn giản nhất để tu Tịnh Độ chính là quyển Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm này, có thể tiến cử quý vị đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc, sách khác thì có thể không cần học. Vì sao vậy? Vì nghĩa Kinh của Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm và Kinh Vô Lượng Thọ đều nằm trong đó, ngài dùng lời đơn giản nhất, ngôn từ ngắn gọn nhất để giới thiệu, còn gì tuyệt vời hơn? Khiến quý vị nghe xong rồi không còn nghi hoặc gì nữa. Đây là sự từ bi vô tận của Niệm lão, lợi ích chúng sanh thế hệ sau.

Quyển sách này là gần đây chúng tôi mới chỉnh lý xong. Vào cuối đời, ngài dùng cách thức nói chuyện, có lẽ người nghe cũng không quá năm sáu người, ở trong ngôi nhà nhỏ của ngài (tôi đã đến nhà của ngài, không lớn), ngồi trên ghế sô pha, giống như trò chuyện mà nói ra. Lúc đó có ghi hình, chất lượng ghi hình không tốt, còn có rất nhiều lời rất khó hiểu, tình trạng này rất nhiều, không ít. Tổng cộng mười giờ. Cho nên tôi đã tìm rất nhiều người để nối lại từng khúc từng đoạn của ngài với nhau, rồi tìm người để hiệu chỉnh, người biết tiếng Bắc Kinh. Ngài sống ở Bắc Kinh rất lâu, mang theo giọng nói của Bắc Kinh. Người chỉnh lý nói với tôi, có khi một câu, một đoạn nhỏ phải nghe mấy chục lần mới nghe hiểu, [rồi] ghi chép lại, có những chỗ nghe hơn một trăm lần. Chỉnh lý thật không dễ dàng, công đức vô lượng vô biên. Bộ sách này có thể lưu truyền ở thế gian, giúp vô lượng vô biên chúng sanh có duyên, Niệm lão ở Thế giới Cực Lạc nhìn thấy hài lòng! Chúng ta phải giới thiệu cho mọi người bảo vật bậc nhất của Tịnh Tông. Có thể bắt đầu học từ Báo Ân Đàm, nghe thêm vài lần, sau đó thì đọc Kinh Vô Lượng Thọ, rồi học Khoa Chú, không khó chút nào, nền tảng đó sẽ cắm rất vững chắc. Phải nghe thêm vài lần, một lần không đủ, sau khi nghe vài lần thì có được pháp hỷ, không muốn rời khỏi.

Vì vậy, ở đây Phật nói, các ông đều nên tin nhận lời Ta nói và lời chư Phật đã nói. 是以極樂大士 “Thị dĩ Cực Lạc Đại sĩ” (Cho nên Đại sĩ ở Cực Lạc), chính là A Di Đà Phật, 宏化十方 “hoành hóa thập phương” (giáo hóa rộng khắp mười phương), đều là dùng khuyên tin làm điều đầu tiên. Chỉ cần quý vị tin, từ từ quý vị sẽ tự nhiên phát nguyện, vì sao vậy? Vì nhìn thấy thế giới ấy tốt như vậy, quý vị sẽ động lòng, quý vị sẽ muốn đến [đó]. Muốn đến, chỉ một câu Phật hiệu. Đại sư Ngẫu Ích nói với chúng ta, có thể vãng sanh hay không then chốt là ở tín nguyện, quý vị có thể tin, có thể nguyện thì quý vị chắc chắn vãng sanh; niệm Phật là vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc phẩm vị cao hay thấp, công phu quý vị niệm Phật càng tốt thì sanh đến Thế giới Cực Lạc phẩm vị cao. Thật sự hiển bày đại đạo chí giản, chỉ đơn giản như vậy, dễ dàng như thế. Bởi vì quá đơn giản, quá dễ dàng, cho nên người thông thường không thể tin. Nếu như có Phương Đẳng, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, những nền tảng của những đại Kinh đại Luận này tương đối dễ dàng, không có nền tảng của những đại Kinh đại Luận này thì rất khó khuyên người khác, đặc biệt là người hiện nay, cả đầu óc là khoa học kỹ thuật, đều cho rằng đây là tôn giáo, là mê tín, đời này bỏ lỡ cơ hội trước mắt, thật đáng tiếc!

Tiếp theo, có tín tâm rồi, sau đó phải tu hành, 修菩提行 “tu Bồ-đề hạnh” (tu hạnh Bồ-đề). “Tu” là sửa lại cho đúng, “hạnh” là hành vi, phải tu hạnh nào? “Bồ-đề”, Bồ-đề là tiếng Phạn, có nghĩa là giác ngộ. Khởi tâm Động niệm phải giác thì không mê, lời nói giác thì không mê, thân thể tạo tác giác thì không mê, đây gọi là hạnh Bồ-đề. Kinh văn bên dưới, trong phẩm thứ 25, 三輩往生,皆發菩提心,一向專念 “tam bối vãng sanh, giai phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” (ba bậc vãng sanh đều phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm). Đây là trong Kinh Vô Lượng Thọ giới thiệu cho chúng ta, ba bậc, bậc thượng sanh Thật Báo Trang Nghiêm Độ, bậc trung sanh Phương Tiện Hữu Dư Độ, bậc hạ sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ, ba bậc vãng sanh đều phải “phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm”, tám chữ này quan trọng. Phát tâm Bồ-đề chính là tín nguyện, thật sự tin có Thế giới Tây Phương Cực Lạc, thật sự tin có A Di Đà Phật, đây chính là tâm Vô-thượng Bồ-đề, lấy được điều kiện của Thế giới Cực Lạc. Tiếp theo chính là nhất hướng chuyên niệm, trong một đời, một phương hướng là Thế giới Tây Phương Cực Lạc, một mục tiêu là thân cận A Di Đà Phật. Tôi đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc làm gì? Đến gặp A Di Đà Phật, làm học trò của A Di Đà Phật, ở Thế giới Cực Lạc viên mãn thành Phật, đến làm việc này.

今云修菩提行,即具發心與專念兩要義 “Kim vân tu Bồ-đề hạnh, tức cụ phát tâm dữ chuyên niệm lưỡng yếu nghĩa” (Ở đây nói tu hạnh Bồ-đề, tức là đầy đủ hai ý nghĩa quan trọng: phát tâm và chuyên niệm). Tu hạnh Bồ-đề chính là hai câu nói này trong Kinh, “phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm”, chính là tám chữ này. 修菩提之大行,必由於發起菩提之大心。且菩提行中,實以一向專念最為上首。一切菩薩萬善齊修,但十地菩薩地地不離念佛 “Tu Bồ-đề chi đại hạnh, tất do ư phát khởi Bồ-đề chi đại tâm. Thả Bồ-đề hạnh trung, thật dĩ nhất hướng chuyên niệm vi thượng thủ. Nhất thiết Bồ-tát vạn thiện tề tu, đãn Thập địa Bồ-tát địa địa bất ly niệm Phật” (Tu đại hạnh Bồ-đề, nhất định bắt đầu từ phát khởi đại tâm Bồ-đề. Hơn nữa trong hạnh Bồ-đề, thật sự lấy nhất hướng chuyên niệm làm hạnh đứng đầu bậc nhất. Tất cả Bồ-tát tu hết thảy vạn thiện, phàm [là] Bồ-tát ở mỗi một địa vị trong Thập địa đều không rời niệm Phật). Ý nghĩa của những câu nói này đều rất sâu. Hạnh Bồ-đề là Đại thừa, Pháp thân Bồ-tát, bắt đầu tu từ đâu? Nhất định là [từ] phát khởi đại tâm Bồ-đề, Bồ-đề là giác ngộ. Phát khởi đại tâm giác ngộ, thật sự là đại tâm, vì sao vậy? Vì đó không chỉ vượt khỏi lục đạo luân hồi, [mà còn] vượt khỏi mười pháp giới. Đó chính là tin có Thế giới Tây Phương Cực Lạc, tin có A Di Đà Phật, mong muốn vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc thân cận A Di Đà Phật, đây chính là đại tâm Vô-thượng Bồ-đề. Có gì tuyệt vời hơn tâm này? Quý vị một đời viên mãn thành Phật rồi, không có gì lớn hơn điều này. Trong hạnh Bồ-đề, hạnh là hành động, ngay trong cuộc sống thường ngày, đó chính là [lấy] nhất hướng chuyên niệm làm [hạnh] đứng đầu bậc nhất, không có hạnh nào cao hơn hạnh này. Lão Hòa thượng Hải Hiền làm được rồi, ngài sống đến 112 tuổi, năm 20 tuổi xuất gia thế độ, Sư phụ truyền pháp này cho ngài, dạy ngài cứ niệm liên tục, ngài niệm liên tục đến khi vãng sanh, 92 năm không gián đoạn, hạnh đứng đầu bậc nhất, làm tấm gương chân thật cho chúng ta xem.

Tiếp theo nói, tất cả Bồ-tát tu hết thảy vạn thiện, hễ là Bồ-tát ở mỗi một địa vị trong Thập địa đều không rời niệm Phật, đây là trong Kinh Hoa Nghiêm nói, chúng ta phải đặc biệt chú ý. Tất cả Bồ-tát lấy Thập địa làm bậc cao nhất, Kinh Hoa Nghiêm nói cho chúng ta biết có tổng cộng 50 địa vị Bồ-tát, từ thấp lên cao, thứ nhất là Thập tín vị, tin đặt ở [vị trí] đầu tiên, rồi vào cửa, hướng lên trên, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, 50 cấp bậc, Bồ-tát của 50 cấp bậc đều tu tất cả vạn thiện, lìa tất cả ác, tu tất cả thiện. Giải thích đơn giản nhất về thiện ác, hễ là lợi ích chúng sanh thì đều là thiện, hễ là lợi ích chính mình thì đều là ác, nhất định phải hiểu được. Vì sao nói lợi ích chính mình là ác? Vì lợi ích chính mình thì tăng trưởng tham sân si mạn, tăng trưởng sự tham luyến của quý vị đối với thế gian, quý vị không thể vãng sanh. Cho nên phải học Bồ-tát, Khởi tâm Động niệm vì người khác, không vì chính mình. Vì người khác thì sẽ rất vui vẻ, việc tôi làm có biết bao nhiêu người được lợi ích, biết bao nhiêu người được điều tốt, như vậy thật sự gọi là niềm vui không gì sánh bằng. Quý vị không làm thì không biết, sau khi làm rồi mới phát hiện, thì ra lợi ích chúng sanh vui vẻ như vậy, thảo nào Phật Bồ-tát làm hằng ngày, các Ngài làm mãi không chán, các Ngài cũng không mệt mỏi. Thăng lên Thập địa, đưa niệm Phật lên vị trí thứ nhất, vì sao vậy? Vì thăng lên Thập địa thì sắp thành Phật rồi, để thành Phật chứng được rốt ráo viên mãn [nên] niệm Phật, niệm Phật thành Phật.

又大行菩薩,普賢為首。故教化一切有情,行普賢道 “Hựu đại hạnh Bồ-tát, Phổ Hiền vi thủ. Cố giáo giáo nhất thiết hữu tình, hành Phổ Hiền đạo” (Lại nữa, trong các Bồ-tát đại hạnh, ngài Phổ Hiền là thượng thủ, cho nên giáo hóa tất cả hữu tình thực hành đạo Phổ Hiền). Tịnh Tông đưa ngài Phổ Hiền lên vị trí đầu tiên. Trong Báo Ân Đàm, Niệm lão nói với chúng ta, Sơ tổ của Tịnh Độ Tông là Bồ-tát Đại Thế Chí. Ở khắp pháp giới hư không giới, vị đầu tiên đề xướng chuyên tu Tịnh Độ vãng sanh Thế giới Cực Lạc là Bồ-tát Đại Thế Chí, cho nên ngài là Sơ tổ của pháp giới. Vị thứ hai, [ở] Thế giới Ta Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật, vị đầu tiên đề xướng chuyên tu chuyên hoằng là Bồ-tát Phổ Hiền. Trong Kinh Hoa Nghiêm, mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền dẫn về Cực Lạc, cho nên ngài Phổ Hiền là Sơ tổ của Thế giới Ta Bà. Ở Trung Hoa của chúng ta, Đại sư Huệ Viễn, trong thời đại Đông Tấn, ngài kiến lập Niệm Phật đường ở núi Lư, Niệm Phật đường Đông Lâm, 123 người ở nơi đó niệm Phật, thảy đều vãng sanh, Sơ tổ của Trung Hoa. Cho nên, Sơ tổ, chúng ta phải làm sáng tỏ.

Bồ-tát Phổ Hiền dùng mười đại nguyện vương, thứ nhất là lễ kính, thứ hai là xưng tán. Ngài Phổ Hiền lấy gì làm chân thật? Chính là tâm của ngài là bình đẳng, tâm của ngài là thanh tịnh, ngài không có ô nhiễm, ngài không có phân biệt, ngài không có cao thấp, ngài dùng Chân Tâm, xưng tán dùng Chân Tâm, lễ kính cũng là Chân Tâm, một mực đều là Chân Tâm. Vì vậy, chỗ khác biệt của ngài với các vị Bồ-tát thông thường là ở chỗ này, tâm lượng rộng lớn không có giới hạn. Tất cả chúng sanh vốn là Phật, lễ kính chư Phật, chư Phật ở đâu? Tất cả chúng sanh là chư Phật, hoa cỏ cây cối là chư Phật, núi sông đất đai là chư Phật, không có gì không phải là chư Phật, lễ kính bình đẳng, cho nên sự lễ kính của ngài là khắp pháp giới hư không giới. Quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng, Bồ-tát Phổ Hiền dạy chúng ta, chúng ta phải nghiêm túc học tập. Trong mười nguyện, bảy nguyện trước là nguyện, ba nguyện phía sau là hồi hướng, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Bồ-đề, hồi hướng Tự Tánh. Cho nên thực hành đạo Phổ Hiền.

普賢者,圭峰大師曰:一約自體,體性周遍曰普,隨緣成德曰賢 “Phổ Hiền giả, Khuê Phong Đại sư viết: Nhất ước tự thể, thể tánh chu biến viết phổ, tùy duyên thành đức viết Hiền” (Phổ Hiền, Đại sư Khuê Phong nói: Thứ nhất, chiếu theo Tự Thể, Thể Tánh biến khắp gọi là Phổ, tùy duyên thành đức gọi là Hiền). Đại sư Khuê Phong nói hay, thế nào gọi là Phổ Hiền? Nói từ Thể Tánh, Thể Tánh chính là Tự Tánh mà Đại sư Huệ Năng nói, Tự Tánh biến khắp pháp giới gọi là Phổ, tùy duyên thành đức gọi là Hiền. Chư Phật Như Lai giáo hóa chúng sanh không có Khởi tâm Động niệm, nếu Khởi tâm Động niệm thì các Ngài biến thành phàm phu rồi, phàm phu mới Khởi tâm Động niệm. Ngài như thế nào? Ngài không Khởi tâm, không Động niệm, tiếp xúc với tất cả chúng sanh, tự nhiên tùy duyên thành đức. Hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, đây chính là tùy duyên thành đức. Vì sao vậy? Vì Ngài không có Khởi tâm Động niệm, Ngài không có Phân biệt Chấp trước, cho nên công đức của Ngài làm được viên mãn. Khác với lục đạo, khác với mười pháp giới, mười pháp giới có Khởi tâm Động niệm, Ngài không có Khởi tâm Động niệm, nhìn thấy rõ ràng, nghe được rõ ràng, đây là đức, đây chính là “tùy duyên thành đức”. Nhìn thấy rất rõ ràng, rất sáng tỏ, chúng sanh đang hưởng niềm vui, chúng sanh đang chịu khổ, luôn giúp họ lìa khổ được vui; đã lìa khổ được vui rồi, nhưng chưa cứu cánh, giúp họ thăng cấp lên cao, giúp họ lìa cứu cánh khổ, được cứu cánh vui. Đây là Phật sự, sự nghiệp của Bồ-tát Đại thừa, việc mà các ngài làm chính là việc này. Sau khi làm xong, tuyệt đối không có một ý niệm nào để trong tâm, nếu có một niệm để trong tâm thì ngài biến thành phàm phu rồi, không có ý niệm, thanh tịnh tự tại, thật sự là không nhiễm một bụi trần. Như vậy gọi là Hiền, đây là nói từ Thể. [1:27:22]

\Thứ hai, 約諸位 “ước chư vị” (chiếu theo các địa vị), nói về cấp bậc của Bồ-tát. 曲濟無遺曰普 “Khúc tế vô di viết Phổ” (uyển chuyển cứu giúp không bỏ sót gọi là Phổ), khúc là uyển chuyển, uyển chuyển khéo léo để cứu giúp tất cả chúng sanh, không bỏ sót, hết thảy đều chiếu cố đến. Vậy vì sao Bồ-tát không đến? Không đến chính là duyên chưa chín muồi, ngài đến rồi quý vị không tiếp nhận, cho nên ngài không đến. Nếu ngài đến quý vị hoan hỷ tiếp nhận thì ngài đến thôi. Vì vậy, không phải ngài không đến, mà là chúng ta không có cảm, nên ngài không có ứng; nếu chúng ta có cảm thì ngài có ứng. Đây chính là ý nghĩa của Phổ. 鄰極亞聖曰賢 “Lân cực Á Thánh viết Hiền” (Á Thánh gần đỉnh gọi là Hiền), cực là đến đỉnh rồi, Á Thánh là Đẳng giác Bồ-tát. Bồ-tát Phổ Hiền ở địa vị nào? Địa vị của ngài là Đẳng giác, địa vị của ngài là hậu bổ Phật. Thánh là Phật, thấp hơn Thánh một bậc gọi là Á Thánh, đây gọi là Hiền.

Thứ ba, 約當位 “ước đương vị” (chiếu theo địa vị hiện tại), đương vị chính là địa vị Đẳng giác hiện nay, địa vị hiện nay của ngài Phổ Hiền, 德無不周曰普,調柔善順曰賢 “đức vô bất chu viết Phổ, điều nhu thiện thuận viết Hiền” (đức rộng khắp gọi là Phổ, nhu hòa khéo léo hòa thuận gọi là Hiền). Chúng ta phải học theo Bồ-tát Phổ Hiền, phải học đức, phải phổ thí rộng khắp. Thí là cho người khác, người khác thiếu gì, nếu chúng ta có thì cần phải giúp họ, đây gọi là Phổ. Xã hội hiện nay thiếu hụt gì nhất? Văn hóa truyền thống thiếu hụt nhất; luân lý, đạo đức, nhân quả thiếu hụt nhất; không có ai làm những việc này. Lần này tôi tham quan Châu Âu, ở nước Anh, Thượng nghị viện tiếp đãi, cấp bậc này rất cao rồi. Tôi cùng với những Nghị viên ấy, họ hỏi tôi, bởi vì họ biết tôi muốn mở Viện Hán học, hỏi tôi vì sao muốn mở Viện Hán học? Động cơ mở Viện Hán học là gì? Tôi nói với họ, Trung Hoa ngàn vạn năm nay, Tổ tiên, những đại Thánh đại Hiền để lại thứ quý giá nhất cho chúng tôi chính là văn hóa. Đại biểu của sản nghiệp văn hóa chính là Tứ Khố Toàn Thư, Tứ Khố Hội Yếu. Tôi tặng cho họ một bộ Hội Yếu, họ cũng nhìn thấy rồi, một bộ sách lớn như vậy. Tôi nói bộ sách này, năm xưa khi chúng tôi còn trẻ ở Đài Loan, những người đọc sách của giới học thuật Đài Loan lo lắng nhất chính là bộ sách này, bởi vì chỉ có một bộ, một bộ Toàn Thư, một bộ Hội Yếu. Sợ chiến tranh, nếu lỡ như xảy ra chiến tranh lần nữa, có thể sẽ hủy diệt, đó sẽ là con người mãi mãi đi vào bóng tối, tổn thất không cách nào so sánh được. Cho nên đều trông chờ vào việc có thể xuất bản hay không, in ấn sách ra.

Đây có lẽ là vào 30 năm trước, Nhà in Thương Vụ, Nhà sách Thế Giới in ấn ra, Nhà in Thương Vụ in Toàn Thư, chỉ in 300 bộ, Nhà sách Thế Giới in Hội Yếu, in 200 bộ. Vì sao vậy? Phân lượng của sách quá lớn, giá thành quá cao, không phải là cá nhân có thể mua nổi, đa phần đều là thư viện, trường học quy mô lớn, thư viện của chính phủ, thư viện nhà nước. Cho nên lần thứ nhất in số lượng ít, hình như không bao lâu đã tiêu thụ hết rồi. Lúc đó, tôi đã mua một bộ Toàn Thư, bộ sách cuối cùng, bộ sách cuối cùng trong 300 bộ, tôi để bộ sách này ở Úc. Hội Yếu là một phần ba của Toàn Thư, 500 quyển, tôi đã mua hơn 70 bộ, chia ra tặng cho thư viện trường Đại học của mỗi tỉnh, thành phố, khu tự trị. Thư viện của thành phố Thượng Hải hỏi xin tôi một bộ, thư viện Bắc Kinh cũng hỏi xin tôi một bộ, tôi đều tặng cho họ. Tôi đã tặng hơn 70 bộ.

Số lượng vẫn còn ít, sợ thế giới động loạn. Thế giới vừa động loạn, nếu mất đi bộ sách này thì phải làm sao? Chúng tôi lo lắng điều này. In nhiều, để ở khắp nơi, chúng tôi tin tai nạn có lớn hơn, long trời lở đất, cũng sẽ còn lại vài bộ, không đến nỗi đoạn tuyệt, tôi có dụng ý như vậy. Cho nên kỷ niệm ngày Tiên sinh Tôn Trung Sơn dựng nước tròn một trăm năm ở Đài Loan, thông báo cho nhà sách Thương Vụ và Thế Giới, hy vọng họ có thể tái bản. Tôi rất quen thuộc với hai nhà sách này, tôi là khách hàng cũ, khách hàng lớn của họ, họ liền nói tin tức này cho tôi biết. Tôi vừa nghe được vô cùng hoan hỷ, tôi nói tốt quá rồi! Lúc đó họ hỏi tôi muốn bao nhiêu, tôi nói tôi muốn 100 bộ Toàn Thư, sau đó tôi lại mua thêm 10 bộ. Tôi đã mua tổng cộng 112 bộ Toàn Thư ở nhà in Thương Vụ. Nhà sách Thế Giới cũng in lại bộ Hội Yếu, tôi đặt họ in 200 bộ. Lại nhờ Nhà sách Thế Giới in cho tôi mười ngàn bộ Quần Thư Trị Yếu, mười ngàn bộ Quốc Học Trị Yếu. Những bộ sách này, có lẽ tôi đã dùng gần một triệu năm trăm đô la Mỹ, tiền mà mọi người cúng dường, tôi đều dùng làm việc này, bảo tồn quốc bảo của Trung Hoa. Tôi cũng đã tặng cho nước Anh rồi.

Như vậy thì không thể thất truyền nữa, nhưng [có] một vấn đề khác, ai đọc đây? Nếu như không có ai đọc, sách đó trở thành một đống giấy vụn, vậy thì có ý nghĩa gì? Họ nghe hiểu rõ rồi, tôi mở Viện Hán học không có mục đích khác, chính là đào tạo một nhóm giáo viên, họ có khả năng đọc Tứ Khố Toàn Thư, có khả năng đọc Quốc Học Trị Yếu, đây chính là mục đích của tôi. Cho nên mục đích của tôi rất đơn giản, hy vọng có thể có 20, 30 giáo viên, tôi không mong có rất nhiều, có 20, 30 người, hằng ngày cùng nhau đọc sách, học Văn Tự học, học Thuyết Văn Giải Tự, thanh vận của Trung Hoa, học những môn này. Sau khi học biết những môn này, tôi tin ba năm sau, tài liệu dạy học của chúng tôi là gì? Tài liệu dạy học chính là Quần Thư Trị Yếu, Quốc Học Trị Yếu, chính là hai bộ này. Hai bộ này, tôi nói với mọi người, đây là chìa khóa của Tứ Khố, quý vị có thể lấy được chìa khóa này thì quý vị có thể đọc hiểu, quý vị có thể giảng giải. Hy vọng quý vị có thể giảng rõ ràng, giảng tường tận, giảng thấu triệt, viết thành văn bạch thoại, sau đó phiên dịch thành ngôn ngữ của mỗi địa phương, quốc gia trên toàn thế giới, lưu truyền trên cả thế giới. Tôi muốn làm việc này. Đây là văn hóa Trung Hoa, trên thế giới không tìm được văn hóa thứ hai, giúp cả thế giới.

Tôi ở nước Anh, mọi người đều biết Tiến sĩ Joseph Toynbee, ông sinh ra ở Luân Đôn. Tôi nói là người của [nước] quý vị nói, tôi đã đọc không ít sách của ông, tôi rất bội phục ông, ông từng nói rất khẳng định, sự động loạn xã hội của thế kỷ 21, cần có học thuyết Khổng Mạnh của Trung Hoa và Phật Pháp Đại thừa. Lại nói với chúng ta, thế kỷ 21 là thế kỷ của người Trung Hoa, tôi nói tôi tin, tôi đọc sách của ông hoàn toàn tán đồng. Thế kỷ 21 là thế kỷ của người Trung Hoa. Mọi người phải biết, là thế kỷ gì của Trung Hoa? Không phải là chính trị, không phải là quân sự, không phải là kinh tế mậu dịch, cũng không phải là khoa học kỹ thuật, mà chính là văn hóa truyền thống Trung Hoa, nó thật sự có thể hóa giải tất cả xung đột trên xã hội, thúc đẩy cá nhân, cho đến sự an định hài hòa của quốc gia xã hội. Dùng cho cá nhân, [là] tu thân, Quần Thư Trị Yếu, thân tâm khỏe mạnh, hạnh phúc tự tại, dùng trong gia đình, gia đình hòa thuận; dùng trong sự nghiệp, sự nghiệp của quý vị thuận lợi thành công; dùng trong xã hội, xã hội an định; dùng trong quốc gia, quốc gia giàu mạnh; dùng trong thiên hạ, thiên hạ chính là [quan hệ] giữa quốc gia với quốc gia, chính là ngoại giao mà ngày nay nói, đối đãi bình đẳng, chung sống hòa thuận, thiên hạ thái bình. Đây là bảo vật chân thật! Đáng tiếc vô cùng, Joseph Toynbee đã đến tham quan Nhật Bản mấy lần, nhưng không nhìn thấy Quần Thư Trị Yếu, nếu ông thấy được Quần Thư Trị Yếu thì nhất định sẽ kinh ngạc, quyển sách này quá hay rồi, văn hóa truyền thống Trung Hoa cứu thế giới chính là nhờ vào sách này.

Vào quá khứ, chúng tôi nghe thấy những lời này của Joseph Toynbee thì bán tín bán nghi. Khi ông nói lời này, chính là thời kỳ đại cách mạng văn hóa trong Trung Hoa. Nói người Trung Hoa lãnh đạo cả thế giới, đều nghi ngờ. Có rất nhiều người hỏi ông, có phải là ông già lú lẫn rồi không (lúc đó ông trên 80 tuổi), sao ông lại có thể nói ra lời này? Ông trả lời rất hay, câu trả lời [khiến] người khác rất khó hiểu. Ông nói các anh không hiểu, các anh phải biết Trung Hoa có 5000 năm lịch sử, có một ngày họ đi không thông, gặp phải khó khăn rồi, họ quay đầu về tìm Tổ tiên, họ sẽ đứng đầu thế giới. Ông nói ra lời này. Hiện nay chúng ta thấy được chủ tịch Tập, thật sự quay đầu lại tìm Tổ tiên, chúng tôi tin lời nói của Joseph Toynbee sẽ được thực tiễn, là thật, không phải là giả.

Văn hóa Trung Hoa thật sự, Joseph Toynbee là người nghiên cứu lịch sử văn hóa, ông chia văn hóa trên toàn thế giới thành 20 mấy loại, ưu tú nhất chính là văn hóa truyền thống Trung Hoa. Người Trung Hoa tâm lượng lớn, người Trung Hoa có thể bao dung, người Trung Hoa có thể nhẫn nhục, người Trung Hoa yêu thích hòa bình, người Trung Hoa trước nay không ức hiếp người khác, 5000 năm lịch sử có thể làm chứng cứ. Cho nên người Trung Hoa lãnh đạo cả thế giới, người cả thế giới có phước rồi. Họ đối với ngoại tộc, Phật giáo Ấn Độ chính là một ví dụ rất tốt, quý vị xem Phật giáo Ấn Độ truyền đến Trung Hoa, người Trung Hoa tôn trọng, không áp chế Phật giáo, không bài xích Phật giáo, đây chính là đại lượng của người Trung Hoa. Phật giáo giúp văn hóa truyền thống Trung Hoa nâng cấp lên, văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng bù đắp điều không đủ của Phật Pháp Đại thừa, đôi bên được lợi ích rõ rệt, nâng đỡ lẫn nhau. Đây là người Trung Hoa, trên thế giới không thấy được người của dân tộc khác có tâm lượng lớn như vậy, có sự bao dung như thế, quý trọng văn hóa của người khác, quý trọng chủng tộc của người khác. Ông nói rất có lý, đây là điều chúng ta phải biết.

Cho nên động cơ của chúng tôi, lý niệm của chúng tôi, phương pháp của chúng tôi cũng vô cùng đơn giản, tôi chỉ muốn tìm một nơi nhỏ, tốt nhất là trường học nhỏ, có thể có hai mươi mấy phòng học, chúng tôi đã đủ dùng lắm rồi. Đại học sẵn lòng hợp tác với tôi, tôi cũng rất vui mừng, chúng tôi cùng nhau thăng tiến. Lợi ích lớn nhất của sự hợp tác chính là sinh viên của chúng tôi tốt nghiệp rồi, có thể lấy được học vị Tiến sĩ Đại học, chuyên lập ra học vị Tiến sĩ Hán học. Nói chuyện vô cùng vui vẻ, việc này vô cùng viên mãn, hết sức thành công. Cho nên chúng ta phải học Bồ-tát Phổ Hiền, địa vị hiện tại, đức rộng khắp; điều thuận, nhu hòa thiện lương tùy thuận.

Joseph Toynbee nói Phật Pháp Đại thừa có thể cứu thế giới, có đạo lý! Chúng ta học Phật không cần nhiều, chỉ cần thực tiễn năm khoa mục đức hạnh của Tịnh Tông chúng ta là được rồi. Quý vị xem Tịnh Tông Học Hội, trước đây thành lập ở Mỹ, chúng tôi nêu ra, Hành môn, môn thứ nhất là “Tịnh nghiệp Tam phước”, môn thứ hai là “Lục hòa kính”, môn thứ ba là “Tam học giới định huệ”, môn thứ tư là “Lục độ Bồ-tát”, môn thứ năm là “Thập nguyện Phổ Hiền”, thực tiễn năm môn này thì có thể cứu cả thế giới, không cần tìm những điều phiền phức khác. Nền tảng, tâm Bồ-đề, nền tảng của tâm Bồ-đề chính là chân thành. Trước kia tôi giảng tâm Bồ-đề, tôi giảng mười chữ: “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”, đây chính là tâm Bồ-đề. Thể của tâm Bồ-đề là chân thành, chân thành đến tột bậc. Tuyệt đối không thể dối gạt người khác, dối gạt người khác là tội lỗi. Cả đời có thể không vọng ngữ, cả đời có thể không dối gạt người khác, quý vị nói xem quý vị vui vẻ biết bao, hạnh phúc biết mấy. Đi theo Phật Bồ-tát thì sẽ không sai. Chân thành là gốc, tướng của nó là thanh tịnh, bình đẳng, đây là tướng, tướng là tướng trạng, hình dạng của nó là thanh tịnh không có ô nhiễm, không bị bất kỳ cảnh giới nào làm dao động. Thanh tịnh, bình đẳng, đây là tướng. Tự thọ dụng là giác ngộ, giác thì không mê. Tha thọ dụng là từ bi, từ bi chính là giúp chúng sanh lìa khổ được vui.

Viện Hán học của chúng tôi thật sự thành công, nếu hai ba năm nay có được thành tựu thì có cống hiến vĩ đại nhất đối với toàn thế giới. Văn hóa truyền thống Trung Hoa, di sản văn hóa mà Tổ tiên Trung Hoa để lại, cả nhân loại cùng hưởng, chúng tôi làm việc này. Một việc khác, tôi nhìn thấy ở nước Anh, họ chủ động khởi xướng đại đoàn kết tôn giáo, đây là việc tốt, điều này rất hiếm có. Mười mấy năm trước tôi đã thường nói đến, muốn cứu vãn trái đất này thì đoàn kết tôn giáo là một con đường. Tôn giáo phải trở về giáo dục, phải học tập lẫn nhau, phải gánh vác được sứ mạng của Thần Thánh. Phải hiển hiện ra tâm từ bi, “Thượng Đế yêu thương nhân loại”, “Chúa yêu thương nhân loại”, các tu sĩ, tất cả tín đồ phải mang yêu thương của Thượng Đế, yêu thương của Thần Thánh thực tiễn trong cuộc sống của chính mình, thay thế Thượng Đế, thay thế Chúa để yêu thương tất cả người thế gian, vậy thì đúng rồi. Nếu không thì “Thượng Đế yêu thương nhân loại” là trừu tượng, ngài yêu thương thế nào? Các tu sĩ phải phát huy tình yêu thương của Thượng Đế, tôn giáo mới có được sự cống hiến thật sự, sự cống hiến tích cực, không có tiêu cực.

故本經中 “Cố bổn Kinh trung” (Nên trong Kinh này), đại chúng tham dự, những vị Đại Bồ-tát này, 咸共遵修普賢大士之德。普賢之德者,十大願王,導歸極樂,自利利他,無有窮盡之德。極樂大士遵行普賢之德,復教餘土眾生皆行普賢之道 “hàm cộng tuân tu Phổ Hiền Đại sĩ chi đức. Phổ Hiền chi đức dã, thập đại nguyện vương, đạo quy Cực Lạc, tự lợi lợi tha, vô hữu cùng tận chi đức. Cực Lạc Đại sĩ tuân hành Phổ Hiền chi đức, phục giáo dư độ chúng sanh giai hành Phổ Hiền chi đạo” (đều cùng tu theo đức của Phổ Hiền Đại sĩ. Đức của Phổ Hiền là mười đại nguyện vương, dẫn về Cực Lạc, tự lợi lợi tha, đức không cùng tận. Đại sĩ ở Cực Lạc thực hành theo đức của Phổ Hiền, lại dạy chúng sanh ở cõi khác đều thực hành đạo Phổ Hiền). Thật tốt! Chúng ta chỉ cần thực tiễn năm khoa mục này, thì Hành môn của Tịnh Tông được kiến lập, thiết thực. Tịnh nghiệp Tam phước, Lục hòa, Tam học, Lục độ, Thập nguyện Phổ Hiền, rất đơn giản, chỉ năm khoa mục.

Chúng ta xem phần tiếp theo, 如是極樂大士,被弘誓鎧,入生死海 “như thị Cực Lạc Đại sĩ, phi hoằng thệ khải, nhập sanh tử hải” (Đại sĩ ở Cực Lạc này, mặc áo giáp hoằng thệ, vào biển sanh tử), đây chính là trở lại lục đạo. Những vị Bồ-tát này ở Thế giới Cực Lạc có tâm bi rất tha thiết, chính mình vẫn chưa thành tựu viên mãn mà ngài đã đến rồi, người như vậy rất nhiều. 雖生他方世界 “Tuy sanh tha phương thế giới” (Tuy sanh ở thế giới phương khác), 或現身穢土 “hoặc hiện thân uế độ” (hoặc hiện thân ở uế độ), uế độ này chính là trái đất hiện nay của chúng ta, hoàn toàn bị ô nhiễm rồi, đây gọi là uế độ. Hoặc hiện thân ở uế độ, 因有彌陀願力加持,永離惡趣 “nhân hữu Di Đà nguyện lực gia trì, vĩnh ly ác thú” (nhờ có nguyện lực của đức Di Đà gia trì, nên mãi xa lìa đường ác). Ngài đến thế giới này, có khả năng không bị cảm nhiễm bởi cảnh giới bên ngoài, không bị dao động bởi cảnh giới bên ngoài, điều này vô cùng hiếm có, đây đều là nguyện lực của A Di Đà Phật đang gia trì, nhờ vào cá nhân thì không làm được, mãi lìa đường ác. 各各隨其意樂,或說法,或聽法,或現神通等。隨意修習,悉皆圓滿。眾生受教,亦皆至心信樂,求生淨土,發菩提心,一向專念 “Các các tùy kỳ ý nhạo, hoặc thuyết pháp, hoặc thính pháp, hoặc hiện thần thông đẳng. Tùy ý tu tập, tất giai viên mãn. Chúng sanh thọ giáo, diệc giai chí tâm tín nhạo, cầu sanh Tịnh Độ, phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” (tùy theo ý muốn và sở thích của mỗi người, hoặc thuyết pháp, hoặc nghe pháp, hoặc hiện thần thông v.v… tùy ý tu tập, thảy đều viên mãn. Chúng sanh tiếp nhận lời dạy, cũng đều chí tâm tín nhạo, cầu sanh Tịnh Độ, phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm), đây chính là thành quả giáo hóa hiện tiền rồi. Hoặc là thuyết pháp, hoặc là nghe pháp, nghe pháp cũng làm “chúng ảnh hưởng”. Pháp sư trẻ tuổi ở trên bục giảng, lão Hòa thượng đều đến nghe, nghe rất say sưa, liền dẫn dắt tất cả thính chúng, chắc là giảng cũng không tệ, quý vị xem lão Hòa thượng cũng ở đó nghe, đây gọi là làm chúng ảnh hưởng, dẫn đầu. Hoặc hiện thần thông, tùy ý tu tập, đều có thể làm được viên mãn. Chúng sanh tiếp nhận giáo hóa cũng tốt, quý vị xem chí tâm tín nhạo, sanh khởi tín tâm rồi, cảm thấy vui vẻ đối với việc học Phật. Cầu sanh Tịnh Độ, phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm, đây chính là chọn lựa Pháp môn này, Pháp môn này có thể giúp chúng ta nhanh chóng thành tựu, Pháp môn này dung hợp tất cả những Pháp môn khác. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

 

(Hết tập 198)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.