308 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014 – Phẩm 24 – HT Tịnh Không giảng

 

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4)

Tập 308 – PHẨM 24: TAM BỐI VÃNG SANH (Ba Bậc Vãng Sanh)

Hòa thượng Tịnh Không chủ giảngGiảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu.

Thời gian: Ngày 14 tháng 2 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Thích Thiện Trang.

          Kính thưa: chư vị Pháp sư, quý vị đồng học, kính chào mọi người, mời mọi người ngồi xuống, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

         A-xà-lê tồn niệm, ngã đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn.  (3 lần)

         Mời xem Đại Kinh Khóa Chú, trang 737, xem từ hàng thứ ba, tiêu đề: 發心專念“Phát tâm chuyên niệm”(Phát tâm chuyên niệm). Mời xem kinh văn:

         發菩提心。一向專念。阿彌陀佛“Phát Bđề tâm, nhất hướng chuyên niệm: A Di Đà Phật”(Phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm: A Di Đà Phật).

         Hôm nay, chúng ta cùng nhau học tập đoạn kinh văn này, đây là đoạn quan trọng nhất của toàn bộ kinh. Hôm nay, ở nơi đây học tập là hiếm có khó gặp được. Phía trước nói về chánh-báo, y-báo của Thế giới Cực Lạc, ba loại trang nghiêm gồm: Phật trang nghiêm, Bồ Tát trang nghiêm, quốc-độ trang nghiêm, cũng chính là hoàn cảnh sinh hoạt, hoàn cảnh học tập, mà mười phương thế giới không thể bằng được. Chúng ta rõ ràng rồi, thì sẽ không hoài nghi nữa, thật sự phát nguyện cầu sanh Tịnh-độ, nguyện này phát thế nào, cầu sanh như thế nào? Thì đây là đoạn kinh văn then chốt nhất của kinh này. Ở đây Phật nói với chúng ta, là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta phát tâm chuyên niệm. Bồ-đề tâm là phát thế nào, chuyên niệm thì niệm ra sao? Thì kinh văn rất đơn giản, chỉ tám chữ đó, cộng thêm câu tiếp theo, cũng không hơn 12 chữ.

         Chúng ta xem Chú giải của Niệm lão, 發菩提心,一向專念阿彌陀佛.此為全經之綱宗,已詳論於明宗章矣“Phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm: A Di Đà Phật. Thử vi toàn kinh chi cương tông, dĩ tường luận ư minh tông chương hĩ”(Phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm: A Di Đà Phật. Chính là cương lĩnh của toàn bộ kinh này. Đã bàn tường tận trong chương minh tông rồi). Phía trước, đã nói tỉ mỉ, thời gian rất lâu rồi, tôi nhớ là hai năm trước, câu nói này là tổng cương lĩnh của toàn kinh, cũng chính là tông chỉ của Tịnh-độ tông, là then chốt nòng cốt quan trọng nhất. Niệm lão dẫn từ sách A Di Đà Kinh Yếu Giải của Đại sư Ngẫu Ích để nói với chúng ta: 《彌陀要解》以信願持名為《小本》之宗 “Di Đà yếu giải dĩ tín nguyện trì-danh vi Tiểu Bản chi tông”( Sách Di Ðà Yếu Giải lấy: tín, nguyện, trì-danh là tông của kinh Tiểu Bản). Tiểu Bản là Kinh A Di Đà, trong chú giải Kinh A Di Đà, Đại sư Ngẫu Ích nói với chúng ta, bộ kinh đó là lấy tín, nguyện, trì-danh làm tông chỉ của giáo học. Tông là gì? Tông có ba ý nghĩa là: chủ yếu, quan trọng, tôn sùng. Điều chủ yếu của Kinh Di Đà nói là gì? Quan trọng là nói điều gì? Điều tôn sùng cao nhất là gì? Là tín nguyện trì-danh, tín nguyện chính là phát Bồ-đề tâm mà ở đây nói, trì danh chính là nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, là ý nghĩa như vậy. 本註則以(《無量壽經》的註解)發菩提心,一向專念為宗“Bổn chú tắc dĩ”(bản chú giaỉ này) , tức Chú Giải của Vô Lượng Thọ Kinh,  “phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm vi Tông”(Bản chú giải này tức là Chú Giải của Kinh Vô Lượng Thọ, thì lấy phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm làm Tông), Tông chỉ của Đại Bản và Tiểu Bản tương đồng, không có khác nhau. 信願即《觀經》中之三心“Tín nguyện tức Quán Kinh trung chi tam tâm”(Tín nguyện chính là ba tâm được nói trong Quán Kinh). Phát Bồ-đề tâm, Bồ-đề tâm là tâm gì? 一者至誠心,二者深心,三者迴向發願心“nhất giả chí thành tâm, nhị giả thâm tâm, tam giả hồi hướng phát nguyện tâm”(Thứ nhất là chí thành tâm, thứ hai là thâm tâm, thứ ba là hồi hướng phát nguyện tâm). Bồ-đề tâm ấy, chúng ta tự mình phải hỏi xem, chúng ta đã có phát chưa?

Tiếp theo, Niệm lão nói, tín nguyện chính là ba tâm nói trong Quán Kinh. Trong Đại Bản dùng văn tự càng đơn giản hơn. Ba tâm gồm: thứ nhất là chí thành tâm, thứ hai là thâm tâm, thứ ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Thế nào là chí thành tâm? Căn cứ vào sách Tứ Thiếp Sớ, Tứ Thiếp Sớ là do Đại sư Thiện Đạo tạo ra, ngài đã giải thích chí thành tâm cho chúng ta, 至誠心者,真實心也“chí thành tâm giả, chân thật tâm dã”(Chí thành tâm là, tâm chân thật vậy). Tất cả pháp thế và xuất thế gian, đều phải dùng tâm chí thành mới có thể đạt được. Chúng ta học Phật học được mấy mươi năm rồi, mà đạt được gì? Đây là cầu từ trên căn bản. Những điều trong kinh giáo nói với chúng ta, chúng ta không đạt được. Chúng ta đọc được rất thạo, chúng ta nói được đâu đâu cũng là đạo, nhưng không đi thực hiện. Vậy chúng ta dùng tâm nào? Là vọng tưởng, tạp niệm, phân biệt, chấp trước, chúng ta dùng là tâm như vậy. Đó là tâm gì? Là tâm phàm phu sáu đường, học tập kinh giáo của Phật Bồ Tát cũng không thể thoát ly sáu đường luân hồi. Tại sao vậy? Bởi chúng ta dùng là tâm luân hồi, tâm luân hồi chính là tâm sanh diệt, chính là ý niệm, quý vị thấy niệm trước diệt thì niệm sau sanh, niệm này tiếp nối niệm kia, ngày đêm không gián đoạn, buổi tối nằm mơ mà vẫn đang tạo nghiệp, chúng ta là dùng tâm như vậy. Dùng tâm như vậy, mà cầu Phật pháp Đại-thừa thì không tương ưng, dù cầu Phật pháp Tiểu-thừa cũng không tương ưng.

Phật giáo truyền đến Trung Hoa chủ yếu là Đại-thừa, kinh Tiểu-thừa cũng truyền đến, nhưng người học tập rất ít. Tứ A Hàm trong Đại Tạng Kinh là kinh Tiểu-thừa. Năm xưa, Đại sư Chương Gia nói với tôi, kinh Tiểu-thừa trong Đại Tạng kinh của Trung Hoa, đem đối chiếu, so sánh với kinh Tiểu-thừa tiếng Pali của Nam truyền, thì đại khái của Nam Truyền nhiều hơn của chúng ta năm mươi mấy bộ. Quý vị phải biết rằng, với hơn 3000 bộ kinh mà chỉ nhiều hơn năm mươi mấy bộ, thì có thể nói toàn bộ kinh Tiểu-thừa đã truyền đến Trung Hoa rồi, thiếu sót không nhiều. Còn Phật pháp Đại-thừa thì truyền toàn bộ đến Trung Hoa rồi. Phật giáo Nam truyền không có kinh Đại-thừa, Ấn Độ cũng không còn nữa, toàn bộ Đại-thừa bứng gốc đến Trung Hoa rồi. Qua các thời đại, người thành tựu không ít, người xuất gia là: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, người tại gia là: Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, một mạch cho đến cuối thế kỷ trước vẫn còn. Pháp sư Hải Hiền là người xuất gia, chúng tôi chưa gặp mặt ngài, nhưng nghe nói, điều nghe được này không phải là giả, mà là thật. Còn ai nữa không? Tôi tin là có, nhưng chúng tôi không biết. Bởi những người chân chánh tu hành, thật thành tựu, thì họ không có tâm danh văn lợi dưỡng, nên không cần phải tuyên dương, chỉ lặng lẽ làm gương cho người có duyên nhìn thấy. Thế nào là người có duyên? Người dùng cùng một tâm với Phật Bồ-tát là người có duyên, tâm đó chính là Bồ-đề tâm nói ở đây. Thể của Bồ-đề tâm, gốc của Bồ-đề tâm, chính là chân thành, ở đây nói chí thành, chân thành đến tột cùng gọi là chí thành, cũng chính là tâm chân thật, chân-tâm, không phải vọng-tâm. Chân-tâm là dạng thế nào? Người minh tâm kiến tánh liền thấy được, liền tìm nó trở về, liền đem nó ứng dụng trong cuộc sống thường ngày, trong công việc, gia đình, sự nghiệp, xã hội, dùng trong xử sự đối người tiếp vật.

Chân, không phải giả; thật, không phải hư vọng, gọi là chân thật. Cách giải thích này vẫn là không dễ lãnh hội. Tôi cảm thấy cách giải thích trong Tứ Thư rất hay, nói là “thành ý”, thành ý là ý nghĩa gì? Không tự lừa gạt, không lừa dối chính mình, đó chính là chân thật. Người bình thường rất dễ lừa gạt chính mình, lừa dối chính mình thành thói quen rồi, họ không có cảm giác, đó là bởi nguyên nhân gì? Vì từ nhỏ không ai dạy. Tôi tính ra là khá may mắn, đuổi kịp chuyến xe cuối cùng, chuyến xe cuối cùng của văn hóa truyền thống. Thời gian quá ngắn, không đến một năm, chỉ có bảy tám tháng, về sau thì không còn nữa. Lúc đó tôi mấy tuổi? Lúc sáu, bảy tuổi, bây giờ có ấn tượng mơ hồ, sau cũng không thấy được nữa rồi. Em trai tôi nhỏ hơn tôi sáu tuổi, cậu ấy thì hoàn toàn không biết, ngay cả ấn tượng mơ hồ cũng không có. Thời những năm đầu Dân Quốc, sau khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, những người chúng tôi trải qua cuộc sống lưu lạc, lánh nạn, người Nhật Bản truy đuổi phía sau, chúng tôi chạy phía trước, tiếng súng máy đều nghe thấy, chúng tôi đã trải qua ngày tháng như thế. Lúc bấy giờ không khí truyền thống Trung Hoa vẫn còn, nhưng không có người dạy học, giống như loại trường học tư thục không còn nữa. Tôi học ở trường tư thục truyền thống đại khái chỉ bảy, tám tháng, về sau cải cách rồi, chính phủ mở trường học ngắn hạn ở nông thôn, hai năm tốt nghiệp, biên soạn chương trình dạy học mới, sách giáo khoa của tư thục trăm ngàn năm truyền lại không dùng nữa, những sách giáo khoa ấy chính được gọi là Tam Tự Kinh, Bách Gia Tánh, Thiên Tự Văn, buộc sửa giáo trình. Cư sĩ Nhân Duyên Sanh đem sách giáo khoa trong tư thục trước đây hội tập lại đại khái có 10 đến 20 loại, in thành một bộ sách, có bảy tập, tên gọi chung là Truyền Thống Văn Hóa Căn Chi Căn, là gốc rễ của gốc rễ. Hiện nay, chúng tôi hy vọng có thể khôi phục Hán học, giáo trình dạy điều gì? Chính là đem kiến thức xưa ra dạy. Có cần biên soạn mới không? Không cần biên soạn đâu, chúng ta biên soạn thế nào cũng không bằng cổ nhân. Tại sao vậy? Vì cổ nhân dùng tâm chí thành, còn chúng ta ngày nay dùng vọng-tâm. Trong tâm chí thành không có thị phi, không có thiện ác, không có hư ngụy, giảng sâu vào trong, thì không có khởi tâm động niệm, mà bên ngoài có cảm, thì tự nhiên có ứng, sự ứng đó không thông qua suy xét, bởi suy xét là vọng-tâm, chính là nói họ không có phân biệt, không có chấp trước. Nếu quý vị hỏi, thì họ trực tiếp liền trả lời cho quý vị.

Hiện nay học Phật khó, niệm Phật không thể vãng sanh, vì nguyên nhân gì? Chính là không có phát tâm Bồ-đề, thì nhất hướng chuyên niệm là giả không phải thật, Phật hiệu thường thường thất lạc, thường thường quên mất, vọng niệm thì luôn luôn hiện tiền, sanh phiền não chứ không sanh trí tuệ. Cho nên người niệm Phật nhiều, mà người vãng sanh ít, đạo lý ở chỗ ấy. Khởi tâm động niệm đều là đặt sự lợi hại của chính mình ở vị trí hàng đầu, đối với tôi có tốt hay không, tôi có bị tổn hại hay không, họ tính toán như vậy. Mỗi người đều tính toán sự lợi hại được mất của chính mình, thì làm sao sự nghiệp sẽ thành công được? Cho dù thành công, quý vị quan sát tỉ mỉ xem, chỉ là nhất thời, chỉ ngắn ngủi, chịu không nổi khảo nghiệm, không chịu đựng nổi ảnh hưởng của nếp sống xã hội, chính mình không làm chủ được. Cổ nhân đắng miệng nhọc lòng dạy chúng ta: gia hòa vạn sự hưng! Giờ không hòa, nên sẽ không có thành tựu. Nơi nào không hòa, thì lựa chọn của tôi chính là rời khỏi. Không rời khỏi, thì định lực của chúng ta có hạn, nếu định lực không thật sâu, không thể không bị ảnh hưởng; định huệ không đủ, thì chỉ có cách tìm núi sâu, tìm nơi không có dấu chân người, đó là hoàn cảnh tốt giúp chúng ta tu hành. Đạo tràng người đông, nhiều người thị phi nhiều, thị phi nhiều thì quý vị không thể không bị ảnh hưởng, không bị ảnh hưởng là người có công phu, có định có huệ. Thời cận đại mà có định có huệ, thì chúng ta học theo lão Hòa thượng Hải Hiền, ngài có định huệ đầy đủ. Cả đời sống ở một cái miếu nhỏ, lều tranh, cũng có bốn, năm người cùng ở với nhau. Không nhất định là bốn, năm người tu cùng pháp môn. Những trưởng lão ấy đều làm ra tấm gương cho chúng ta, mỗi người tu Pháp môn của mỗi người, Pháp môn không giống nhau, kinh điển nương theo cũng không giống nhau, nhưng có thể hòa thuận với nhau, tôn trọng lẫn nhau, tôn kính lẫn nhau, thật khó có! Ca ngợi lẫn nhau, không có phê bình. Thời gian tu hành không ngắn, cùng nhau cộng tu đến năm, sáu năm, mỗi người đều có thành tựu. Tất cả bốn người quý ngài, đều có thành tựu, có vị tu Thiền, có vị tu Tịnh, có vị tu Giáo, có vị tu Mật, đều là Pháp môn mà Thích Ca Mâu Ni Phật truyền lại. Hiểu được đạo lý này, thì liền sanh khởi tâm cung kính; nếu không rõ đạo lý này, thì Pháp môn của tôi thù thắng hơn bạn, bạn không bằng tôi, so bì cao thấp lẫn nhau, vậy thì hỏng rồi, toàn bộ công phu bỏ hết, thì làm sao mà quý vị thành tựu được?

         Lần này hiếm có, tôi nghe mọi người nói ở Hồng Kông muốn mở trường học, đây là kỳ vọng bao nhiêu năm của chúng tôi, chính là đưa tôn giáo trở về nền giáo dục. Phải biết rằng, khi tại thế Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta thị hiện ra là mở trường học, Đức Phật vì chúng ta mà thị hiện, biểu diễn, 30 tuổi thì đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, dưới cây Bồ-đề. Sau khi khai ngộ, Ngài liền dạy học ở vườn Lộc Dã, cho những người chí thân của Ngài, đó là năm Tỳ-kheo Kiều Trần Như, đều có bà con với Ngài, không phải bà con bên cha, mà là bà con bên mẹ, họ theo giúp đỡ, bảo vệ cho Ngài, tính luôn bản thân Thích Ca Mâu Ni Phật, là sáu người. Cho nên, Ngài tìm lại năm người ấy. Phật từ mình giữ giới, đắc định, khai huệ, Ngài đem huệ đã khai của mình báo cáo cho họ, đó chính là bắt đầu dạy học rồi. Lúc bắt đầu dạy đó là Tiểu học, giảng điều gì? Giảng A Hàm, thời gian là 12 năm, đó là Tiểu học, Thích Ca Mâu Ni Phật mở lớp dạy Tiểu học 12 năm. Qua 12 năm thì những người ấy được nâng cao rồi, đã cắm rễ của Tiểu học, nên nâng cao lên thì mở lớp Trung học, trường học theo dây chuyền, Trung học thì giảng Phương Đẳng, đã giảng 8 năm Phương Đẳng. Tiếp tục nâng lên là giảng Bát Nhã, Bát Nhã là Đại học, Bát Nhã là bộ kinh điển được Thích Ca Mâu Ni Phật giảng chủ yếu, là kinh Đại-thừa, với trí huệ, chân thực trí huệ. Chân thực trí huệ từ đâu đến? Là từ chân-tâm lưu xuất ra.

         Trong vọng-tâm lưu xuất ra là phiền não, là tập khí, vả lại tập khí đó là tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay, không phải chỉ đời này, mà đời đời kiếp kiếp, đã thâm căn cố đế, không có trí huệ thì không chuyển tập khí trở lại được. Chỉ với trí huệ quán chiếu, để chiếu vỡ tập khí, biết rằng những thứ ấy đều là giả, không phải là thật, mới đem nó buông xuống được. Thông thường nói tập khí có 5 loại là: tham, sân, si, mạn, nghi. Mạn là kiêu mạn, nghi là hoài nghi, năm loại tập khí này tích lũy lại từ vô thỉ kiếp đến nay, đời sau nghiêm trọng hơn đời trước, dùng cách nói thời nay của chúng ta thì: tập khí này năm sau nghiêm trọng hơn năm trước. Đoạn kiến-tư phiền não tập khí rồi thì mới chứng A-la-hán, mới siêu vượt lục đạo luân hồi. Quý vị biết vậy là khó, thật quá khó! Nên A Di Đà Phật từ bi, nghĩ ra Pháp môn cứu độ những chúng sanh khổ nạn, Pháp môn đơn giản dễ dàng thành tựu, đó chính là Tịnh-độ tông. Tịnh-độ tông là do A Di Đà Phật kiến lập, chúng ta dựa vào đại nguyện đại hạnh của A Di Đà Phật, học tập theo Ngài, thì thật dễ dàng. Thật dễ dàng, nhưng cũng thật không dễ! Không dễ điều gì? Không dễ là ở chỗ quý vị đang bị phiền não quấy nhiễu; còn dễ là chỉ cần quý vị không nhận chịu sự quấy nhiễu của phiền não, tự quý vị làm chủ được mình, thì ngay trong đời này nhất định quý vị được sanh, đó gọi là chân tín.

Trong chân tín, thì chữ “chân” này quan trọng, niềm tin của chúng ta đều không phải chân tín, tại vì sao? Bởi vì chúng ta vẫn còn tham luyến thế giới này, vẫn không chịu buông xuống, phiền não tập khí vô cùng sâu nặng, chỉ có thể nói là kết duyên với A Di Đà Phật, để đời sau kiếp sau gặp lại được rồi tu tiếp. Đời sau kiếp sau là đợi bao lâu? Vậy phải hỏi chính mình. Nếu chính mình mà: tâm hạnh bất thiện, quan niệm dục vọng rất mạnh, cống cao ngã mạn, không coi ai ra gì, luôn cho mình là đúng. Những phiền não tập khí đó sẽ kéo quý vị vào ba đường ác. Khi vào ba đường ác, bất kể là súc sanh, ngạ quỷ, hay địa ngục, thì không cần nói nữa. Trên kinh Phật nói chúng ta biết, Phật không nói lời giả dối, cũng không để hù dọa chúng ta, mà Phật nói lời thành thật, một khi đọa ba đường ác là 5000 kiếp.        Chúng ta mất thân người rồi, lần sau được lại thân người thì cần bao lâu? Sau năm ngàn kiếp, thì phiền phức quá lớn rồi! Hoàn cảnh như vậy, chúng ta độ không nổi chúng sanh đâu, Phật Bồ-tát cũng không biết làm sao, thì chúng ta làm được gì chứ? Nên điều quan trọng nhất là độ chính mình.

Thật sự làm thế nào để chúng ta được vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc? Vãng sanh Thế giới Cực Lạc là dễ dàng, nếu chỉ cần quý vị buông xuống được, buông xuống vạn duyên. Buông xuống từ nơi đâu? Là buông xuống từ khởi tâm động niệm, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần không khởi tâm không động niệm. Khó! Quý vị đi thử nghiệm xem. Thật sự làm được không khởi tâm không động niệm, thì thành Phật rồi, thành Pháp-thân Bồ-tát, tức là quý vị trở về Tự-tánh, không khởi tâm không động niệm là hồi quy Tự-tánh. Khởi tâm động niệm là A-lại-da, là vọng-tâm, đó là sáu đường luân hồi, khởi tâm động niệm trong sáu đường luân hồi. Không khởi tâm không động niệm là thành Phật; khởi tâm động niệm, mà không có phân biệt chấp trước là Bồ-tát. Chúng ta khởi tâm động niệm, phân biệt chấp trước liên tục, là tạo nghiệp, tạo nghiệp gì? Nghiệp luân hồi, nghiệp thiện thì sanh ba đường thiện, nghiệp ác thì sanh ba đường ác. Ba đường thiện, ba đường ác đều không ra được lục đạo luân hồi, chính là việc xoay vần như vậy. Nếu quý vị thật sự hiểu rõ, làm sáng tỏ rồi, thì sợ hãi. Mới biết Pháp môn của đức Di Đà này: là tín nguyện trì-danh, Pháp môn này cao, diệu! Pháp môn này có thể cứu chúng ta, có thể cứu tất cả chúng sanh, trên thì độ Đẳng-giác Bồ-tát, dưới thì độ chúng sanh địa ngục A-tỳ. Chỉ cần quý vị có thể tin, chỉ cần quý vị nguyện sanh, chỉ cần quý vị chịu niệm câu A Di Đà Phật này, một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng, đừng đổi đề mục nữa.

Lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ vào cuối đời, sau cùng ngài có một lần giảng giải Tịnh Tu Tiệp Yếu do lão Cư sĩ Hạ Liên Cư biên soạn cho các đồng học, đó chính là bản khóa tụng đơn giản nhất của tu Tịnh-độ, chỉ có 32 lễ. Trong 32 lễ là lễ những gì? Liên Công nói rất rõ ràng, thế nhưng những người mới học chúng ta xem không hiểu, nên Niệm lão đem sách đó giải thích giảng giải, lưu truyền ra. Ngài giảng được rất tường tận, chính là quyển sách này: Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm, quý vị thấy phân lượng không ít. Chúng ta nên đối xử với bộ sách này như là Kinh Vô Lượng Thọ, bởi giá trị của sách này ngang bằng với Kinh Vô Lượng Thọ, hoàn toàn căn cứ vào Kinh Vô Lượng Thọ, đó là quyển sách giới thiệu đơn giản nhất cho Kinh Vô Lượng Thọ. Chúng ta muốn học sách này, thì phải đọc bao nhiêu lần? Tôi khuyên mọi người ít nhất phải niệm một ngàn lần. Quý vị niệm 1000 lần rồi, thì quý vị sẽ thật thà, quý vị sẽ nghe lời, quý vị sẽ thật làm. Làm sao có thể làm được thật thà, nghe lời, thật làm? Hãy niệm quyển sách này 1000 lần, thì tự tự nhiên nhiên lão thật thôi. Tại sao vậy? Vì quý vị đạt được A Di Đà Phật gia trì, thì quý vị thật sự có thể thông đạt toàn bộ Phật Pháp rồi, biết tất cả những gì Thích Ca Mâu Ni Phật đã làm trong 49 năm, đó là tiểu bản về Phật học khái yếu, Phật học khái luận, thì quý vị sẽ quyết chắc một lòng lựa chọn: tín nguyện trì-danh, vãng sanh Tịnh-độ, quý vị sẽ chắc chắn được sanh Thế giới Cực Lạc.

Phải thật sự buông xuống vạn duyên, giúp đỡ Phật Pháp thường trụ thế gian, giúp hoằng dương rạng rỡ Phật Pháp, giúp đỡ dẫn dắt tất cả chúng sanh vào cửa Phật pháp, đó đều là việc của Bồ-tát. Có thể làm sự nghiệp của Bồ-tát hay không? Không nên làm. Tại sao vậy? Sau khi làm thì quý vị vẫn vào tam đồ. Nếu quý vị không sợ đọa tam đồ, thì quý vị đi làm; nếu quý vị sợ đọa tam đồ, thì không nên làm. Đến khi nào có thể làm? Khi sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần mà không khởi tâm không động niệm, hoặc là có khởi tâm động niệm, nhưng sau đó quý vị có năng lực khống chế được để không phân biệt, không chấp trước, như vậy có thể làm tất cả, cũng không chướng ngại quý vị vãng sanh. Nếu quý vị vẫn còn, nói rõ là vẫn chưa đoạn thất tình ngũ dục, vẫn còn tham sân si mạn nghi, vậy thì không nên làm, bởi nếu quý vị làm thì nhất định sẽ đọa tam đồ. Đây là lời chân thật mà tôi khuyên quý vị. Cả đời tôi đây, là ở trong cảnh giới như vậy mà rèn luyện ra, thuận cảnh, tôi nắm chắc chắn; thuận cảnh, tôi không có tham luyến, có thể xả, có thể buông xuống. Quý vị đồng học đã theo tôi thời gian lâu, thì quý vị đều nhìn thấy được, tôi chỉ nắm giữ câu Phật hiệu này, tôi học lão Hòa thượng Hải Hiền. Phải thật làm, không thật làm không được! Thật làm thì quý vị sẽ thưởng thức được pháp hỷ, pháp hỷ sung mãn, thường sanh tâm hoan hỷ. Tự mình rõ rõ ràng ràng, hòa quang đồng trần cùng với mọi người, nhưng không nhiễm một mảy may. Phải tùy duyên, không phan duyên, không miễn cưỡng, cả đời không làm việc miễn cưỡng. Tuy nhiên có Tam Bảo gia trì, có Tổ tông bảo hộ, chúng tôi có những cách nghĩ, nguyện vọng gì cũng đều thực hiện được; đó là do sức mạnh bảo hộ của Tổ tông, sức mạnh gia trì của Tam Bảo, không phải do chính chúng tôi có đại trí huệ, có đại phước báu, không phải. Trí huệ, phước báu của chúng tôi là do đời này tu được.

 Hoàn toàn cầu cảm ứng, tôi ở Đài Trung 10 năm, thầy đã dạy tôi bốn chữ “chí thành cảm thông”. Cảm là cảm ứng, thông là thông đạt không có chướng ngại, dùng cách gì? Là chân thành đến tột cùng. Tâm chí thành, tâm chân thật, là đại căn đại bổn của tất cả thiện pháp thế xuất thế gian. Học Dung nói rất hay: không gạt mình. Chúng ta không lừa dối chính mình nữa, thì sẽ có thành tựu. Buông xuống tất cả tập khí của quá khứ, làm người mới, y chiếu theo sự dạy dỗ của Phật Bồ Tát. Chúng ta dùng chân-tâm, chúng ta không dùng vọng-tâm. Phải biết: chân-tâm, vọng-tâm, thế nào là chân-tâm? Chân-tâm không có ý niệm, có ý niệm chính là vọng-tâm. A-lại-da hàm chứa chủng tử, Mạt-na thì chấp chặt kiên cố, ý thức thứ sáu giỏi về phân biệt. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, những điều này không nên dùng, dùng những điều này  thì vĩnh viễn tạo luân hồi. Đối người xử việc phải dùng tâm gì? Đem mỗi người đều xem là A Di Đà Phật hóa thân, là A Di Đà Phật thị hiện để dạy chúng ta, đến khảo nghiệm chúng ta, đến quản thúc chúng ta, thì chúng ta sẽ có thành tựu. Nếu tự cho rằng mình ở trên cao ngất, còn người khác là phàm phu, thì ngay cả xem Phật Pháp quý vị cũng không hiểu, vẫn đang tạo nghiệp. Họ tạo nghiệp, chúng ta tạo nghiệp theo họ; họ không hiểu, ta đã hiểu chưa? Ta hiểu rồi thì không tạo nghiệp theo họ, ta tạo nghiệp cùng với họ thì hiểu ở chỗ nào? Họ biểu hiện được tốt, ta lại ganh ghét họ; họ biểu hiện không tốt, ta bắt nạt họ, xem thường họ. Đặc biệt là tâm nóng nảy bao chao, mỗi năm càng bành trướng, không có thu nhỏ, mà càng to ra.

Cho nên thầy giáo giỏi muốn tìm học sinh, mà học sinh không có nữa, tìm không ra; tìm không thấy, dần dần thầy giáo giỏi cũng không có luôn, bây giờ có học sinh giỏi, mà tìm không ra thầy giáo giỏi. Chúng tôi cảm ân đội đức đối với thầy giáo, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn không quên. Đời này, bản thân tôi sinh trưởng trong một gia đình bần nông, tôi nhớ lúc nhỏ, gia đình chúng tôi có mấy mẫu đất? Hai mẫu đất, trồng một ít lương thực, thì quý vị biết rằng rất có hạn, lúc không trồng lương thực thì làm vườn rau trồng cải, chỉ duy trì mức sống thấp nhất, không có điều kiện đi học, vì đi học phải đóng học phí, mà đóng không nổi học phí. Tôi rất may mắn, sống qua một năm ở đại gia đình, cho nên đối với đại gia đình cổ xưa của Trung Quốc, anh em mười người không phân chia nhà, vẫn nhìn thấy ấn tượng đó, khái niệm ấy, vẫn nhìn thấy được. Lúc đó, nhớ được là khi bảy, tám tuổi. Sau khi kháng chiến thắng lợi, kiểu đại gia đình vậy không còn nữa, có lẽ toàn quốc cũng tìm không ra mấy gia đình như vậy. Quê hương chúng tôi, nơi An Huy, Giang Nam Giang Bắc vẫn còn một chút dấu vết, vẫn không phai mờ, căn nhà cũ vẫn còn, nghe nói bây giờ chính phủ cho tu sửa lại, bảo dưỡng để làm di sản văn hóa, điểm tham quan du lịch, xem gia đình cổ xưa Trung Quốc; người thì không còn nữa, kiến trúc nhà cũ vẫn còn, vẫn có thể tìm được mấy căn. Không dễ có!

Từ nhỏ bị nghe những người giáo dục nói tôn giáo là mê tín, cho nên chúng tôi có khái niệm đó từ nhỏ, thì không muốn tiếp xúc với tôn giáo. Tuy lúc nhỏ mẹ đi lễ Phật, lên miếu thắp hương, nhưng mẹ cũng không hiểu Phật là gì, quen thuộc thì biết Phật giáo có A Di Đà Phật, có Quán Thế Âm Bồ Tát, còn những điều khác thì không biết gì; miếu thành hoàng của Đạo giáo, mẹ tôi đến những hội miếu này, dắt chúng tôi đi theo. Sau đó khi chính tôi lên Tiểu học, thầy giáo nói đó đều là mê tín, chúng tôi cho rằng thật sự là mê tín, nghe theo lời thầy giáo. Vì vậy, năm 26 tuổi gặp được ngài Phương Đông Mỹ, đây là bước ngoặc lớn nhất trong cuộc đời, tìm được con đường chính xác, thầy giáo đã giảng cho chúng tôi rõ ràng, sáng tỏ, điều mà trước đây chưa hề nghe qua. Tôi học Triết học với ngài, đơn vị sau cùng là Triết học Kinh Phật, lúc đó tôi rất kinh ngạc, Phật giáo là tôn giáo, là mê tín, mà còn là tôn giáo cấp thấp trong tôn giáo, tôn giáo cấp cao chỉ có một vị thần, một vị chân thần thôi; còn đa thần giáo, phiếm thần giáo gọi là tôn giáo cấp thấp, Phật giáo thì thứ gì cũng bái, cho nên không hiểu được, sinh ra hiểu lầm rất lớn, cho rằng đó là phiếm thần giáo, đa thần giáo. Thầy Phương nói với tôi: Thích Ca Mâu Ni là nhà Triết học vĩ đại nhất trên thế giới, kinh điển Đại-thừa là đỉnh cao nhất trong Triết học trên thế giới, học Phật là hưởng thụ cao nhất của đời người.

Học Phật thì thế nào? Là không gì vui bằng! Câu nói của Khổng tử là: “Học nhi thời tập chi, bất diệc diệt hồ”(học mà thật hành, thì không gì vui bằng). Còn lời Phật nói là: pháp hỷ sung mãn, thường sanh tâm an lạc. Nếu quý vị thật học Phật, thì thật được như thế. Vì sao vậy? Bởi người người đều là Phật, ai ai cũng là Phật, họ cũng không có mảy may khuyết điểm, làm bao nhiêu việc tốt không có khuyết điểm, làm tất cả việc xấu cũng không có khuyết điểm, là thế nào? Là biểu diễn trên sân khấu thôi. Biểu diễn làm một người thiện, biểu diễn thôi, thì họ làm sao có thiện ác? Nếu biểu diễn làm người ác, cải trang được rất giống, diễn được rất thành công, nhưng họ là bình đẳng. Chúng ta nên xem thế gian này như thế nào? Là sân khấu. Học sinh là ai? Học sinh là chính mình, những người khác đều là thầy giáo đến dạy chúng ta, đến giúp đỡ chúng ta quay đầu, giúp đỡ chúng ta khai ngộ, giúp đỡ chúng ta hồi quy Tự-tánh, vậy thì quý vị sao lại không vui vẻ chứ! Từ sớm đến tối đều ở chung với Thánh Hiền Bồ-tát, thì quý vị không vui vẻ sao? Thật học thì đạt được như vậy. Nên lời của cổ nhân không phải là lời giả, lời này không phải của tôi nói, mà là cổ nhân nói, chỉ có mình ta là phàm phu, phàm phu được ân huệ, được lợi ích, luôn luôn nghĩ đến tất cả mọi người đều là thầy giáo, là bạn tốt. Khổng tử nói, “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư”(Ba người đi, tất có thầy ta). Ba người đi thì chính mình là một người, một người thiện, và một người ác, với người thiện, chúng ta phải học sự thiện của họ, họ tốt chỗ nào, thì học họ; với người ác, thì họ tạo ác để chúng ta thấy, giúp chúng ta phản tỉnh không được tạo những việc ác ấy, tất cả thảy là đến biểu diễn. Vì vậy, một người dạy ta thiện pháp, một người dạy ta sửa sai làm mới, họ làm ra tấm gương để cho ta xem, giúp cho ta tự biết thiện ác, giúp ta hiểu rằng làm thế nào xử lý vấn đề này, khi nhìn thấy bất thiện, thì quay đầu xem xét chính ta có hay không, nếu ta có, thì quyết định không được làm. Đó là thầy của ta, ta không được xem thường họ, nếu họ không biểu diễn trước mặt ta, thì làm sao ta biết chính mình có lỗi lầm? Làm sao biết chính mình cần phải sám hối, phải sửa sai? Không thể. Nên đối với những người đó phải cảm ân, cho dù là oan ức ta cũng cảm ân, tại sao vậy? Để ta nghiêm túc phản tỉnh, ta thật sự có lỗi lầm đó hay không? Họ hủy báng ta, ta nghe thấy rồi, mà ta không có, thì rất vui mừng, ta cảm ân họ, lần này họ nhắc nhở cho ta, làm ra lần phản tỉnh đó, giống như bài tập thầy giáo chế định ra, chúng ta nghiêm túc học tập. Vậy thì mới có thể khế nhập cảnh giới Thánh Hiền, mới vào được quả Phật Bồ-tát.

Cho nên, tâm chân thành quan trọng biết bao! Chúng ta ngày ngày niệm, mà không có, tự lừa gạt chính mình, lừa dối chúng sanh. Nên A Di Đà Phật phái lão Hòa Thượng Hải Hiền biểu diễn trụ thế. Thầy ấy là do ai phái đến vậy? Là do A Di Đà Phật phái đến, để làm ra tấm gương niệm Phật cầu vãng sanh cho chúng ta. Quý vị thấy lão Hòa thượng mỗi ngày từ sáng đến tối hoan hoan hỷ hỷ, gặp người nào cũng mỉm cười, ngài là thế nào? Pháp hỷ sung mãn, thường sanh tâm hoan hỷ. Trong tâm của lão Hòa thượng luôn không có một người ác, dù quý vị đánh ngài, quý vị chửi ngài, sỉ nhục ngài, thì lão Hòa thượng đều cảm ơn quý vị. Trước nay chưa có ai quở trách, ngài trồng bắp rất cực khổ mà có người trộm, bị ngài nhìn thấy rồi, ngài liền nói với người đó: Không sao đâu, hãy chọn trái lớn, lấy thêm đi. Chúng ta phải học những điều này. Tại sao họ phải trộm? Vì họ không có tiền mua, họ cần lương thực, chỗ chúng ta có dư, chỗ họ không có, mới ra sức lấy. Lần sau người đó gặp lão Hòa thượng thì thân mật rồi, cung kính lão Hòa thượng. Vì thế sách “Tam Thánh Vĩnh Tư Tập” của Lai Phật Tự cũng nên xem nhiều, xem nhiều thì thêm trí tuệ. Nhìn lão Hòa thượng vui vẻ như vậy, pháp hỷ sung mãn, tự tại, 112 tuổi vẫn leo cây hái trái hồng, để chiêu đãi tín đồ. Tự mình leo cây, dù đã 112 tuổi.

Đối đãi người, thì người người đều là người tốt, việc việc đều là việc tốt. Chỉ cần quý vị không có phân biệt chấp trước, thì quý vị sẽ nhìn ra việc việc là việc tốt, đều là để giúp đỡ chúng ta tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ, để khảo nghiệm định công của chúng ta, khảo nghiệm lục hòa, lục Ba-la-mật của chúng ta, rốt cuộc chúng ta có hay không, chúng ta đạt được bao nhiêu. Họ vu oan, đỗ lỗi cho quý vị, bịa đặt sinh sự với quý vị, thì quý vị sẽ nỗi nóng hay không, sẽ oán hận hay không? Vẫn còn, thì chưa đạt. Đó là thầy giáo đến kiểm tra, mà quý vị chưa đạt được. Thật sự hiểu rõ rồi, thầy giáo bảo chúng ta làm phản tỉnh cao thêm một cấp, có sai thì sửa, không có thì lấy đó để răn nhắc mình. Vậy thì người nào không phải thầy giáo? Trẻ em cũng là thầy giáo, người già cũng là thầy giáo, người thiện là thầy giáo, người ác cũng là thầy giáo. Người phát Bồ-đề tâm, dùng tâm thái ấy để xử sự đối người tiếp vật, sẽ cảm hóa được người khác, họ sống ở nơi này, sống ba đến năm năm, thì người ở nơi này đều được cảm hóa. Cho nên, học rồi mà không làm ra tấm gương, vậy thì có công dụng gì? Nếu không làm ra tấm gương thì phải nhanh chóng vãng sanh Thế giới Cực Lạc, đến Thế giới Cực Lạc để tiếp nhận sự dạy dỗ của A Di Đà Phật. Sau khi đại triệt đại ngộ, thành Pháp-thân Bồ-tát, thì quý vị tự nhiên liền giúp đỡ A Di Đà Phật giáo hóa chúng sanh ở mười phương thế giới. Giống như biểu pháp của lão Hòa thượng Hải Hiền vậy, là được phái đến, đến để biểu diễn. Sau đó chúng ta quay đầu thì lập tức liền thấy được, hóa ra tất cả chúng sanh trên toàn thế giới đều là do Phật Bồ-tát phái đến, đều là để biểu diễn thôi, ngay cả cây cối hoa cỏ, núi sông đất đai đều là Phật Bồ-tát phái đến để biểu diễn, phái đến giúp đỡ chúng ta. Chúng ta trong mê muội nên không biết. Đó là bởi nguyên nhân gì? Vì không có thành ý, nên không nhìn ra được. Nếu tâm chân thật, tâm chí thành thì sẽ nhìn ra được, sau khi nhìn ra được, liền sanh khởi tâm cảm ân, cảm ân đối với Phật Bồ-tát, cảm ân Tổ tông, cảm ân đối với tất cả chúng sanh, tất cả vạn vật. Đó là chí thành tâm.

         Tiếp theo, thứ hai là, 深心“thâm tâm”(thâm tâm). Thâm tâm là gì?  深信心也。深信有二:一者,決定深信自身現是罪惡生死凡夫。曠劫以來,常沒常流轉,無有出離之緣“Thâm tín tâm dã. Thâm tín hữu nhị: Nhất giả, quyết định thâm tín tự thân hiện thị tội ác sanh tử phàm phu. Khoáng kiếp dĩ lai, thường một thường lưu chuyển, vô hữu xuất ly chi duyên”(là tâm tin sâu vậy. Tin sâu hai điều: Một là tin sâu quyết định rằng thân mình hiện là phàm phu sanh tử tội ác, từ bao kiếp đến nay thường lưu chuyển chìm đắm, không có duyên gì để thoát khỏi). Đó là sự thật, quý vị quan sát tỉ mỉ đều ở trước mắt, gặp được giáo huấn Thánh Hiền, gặp được kinh giáo của Phật Bồ Tát, gặp được thiện tri thức đến giúp đỡ chúng ta học tập là khó biết bao, ngày nay càng khó hơn. Tôi theo thầy Phương, là 65 năm trước, ở đây nói 65 năm trước, lúc đó tôi muốn học, mà không có duyên, không ngờ rằng thầy Phương có thể dành thời gian ngày chủ nhật, để dạy tôi hai giờ đồng hồ, tôi rất cảm ân! Không nộp một đồng học phí. Thầy nghiêm túc dạy học, giúp tiêu trừ hết những hiểu lầm trước kia của chúng tôi, mới sanh khởi tâm cung kính đối với giáo huấn của Thánh Hiền, của Phật Đà. Nếu như không có bước ngoặc đó, thì có thể tôi sớm đã không còn ở thế gian rồi. Bởi vì thọ mạng tôi chỉ có 45 tuổi. Năm 45 tuổi đó thật sự bị một trận bệnh, bệnh suốt một tháng, trong lòng tôi hiểu rõ, thọ mạng hết rồi, nên tôi cũng không tìm Bác sĩ, cũng không uống thuốc. Hai đồng học Đại học Đài Bắc, một Đại học Sư phạm, một Đại học Chính Trị, bốn người nữ đó, chăm sóc cho tôi, luân phiên chăm sóc tôi, lúc đang bệnh nặng, mỗi ngày tôi ăn một ít cháo với rau, niệm Phật cầu vãng sanh. Thọ mạng hết rồi, tôi tin tưởng Bác sĩ chỉ có thể trị bệnh, không thể trị mạng, mạng hết rồi thì ngoan ngoãn chuẩn bị đi. Niệm Phật như vậy qua một tháng thì bình phục lại, hết bệnh rồi. Từ lúc đó đến bây giờ, năm 79 tuổi tôi bị một trận bệnh nữa, bị bốn ngày, khi đó đang thăm quan Bắc Kinh, tôi ở trong khách sạn, không nằm bệnh viện. Trong lòng tôi cũng hiểu rõ, 79 tuổi, rất nhiều người đều qua không được 79 tuổi, ngài Đông Phương Mỹ cũng ra đi năm 79 tuổi. Vì vậy, tôi tin tưởng Phật Bồ Tát kéo dài thọ mạng cho tôi, từ 45 kéo dài tuổi thọ đến 79, rất khá rồi, rất mãn nguyện rồi. Lúc đó mời Đông y, quen biết mấy vị lão Đông y ở Bắc Kinh, họ cho tôi uống Đông dược, ba ngày thì hồi phục rồi, sau khi hồi phục tôi liền về Hồng Kông, ở Hồng Kông dưỡng sức khỏe hai tuần. Vậy rồi liền khôi phục việc giảng kinh dạy học, từ đó mãi đến nay không bệnh nữa.

Thân thể lưu lại thế gian làm việc gì? Để giúp A Di Đà Phật tiếp dẫn người sơ cơ. Hiện nay gặp được một cơ duyên, gặp được văn hóa truyền thống Trung Hoa chúng ta, nếu như không có ai kế thừa, phát dương quang đại, truyền lại cho đời sau, thì văn hóa này rất có thể sẽ diệt mất, đây là điều mà chúng tôi lo lắng. Nếu văn hóa truyền thống Trung Hoa tiêu mất hẳn ở thế gian, thì là đại bất hạnh của nhân loại, tại sao vậy? Vì nhân loại sẽ đi vào đen tối, vấn đề này rất nghiêm trọng. Nên nếu có duyên phải làm, chính tôi không có năng lực làm nữa, tuổi tác quá lớn rồi, thế nhưng tôi hy vọng có người làm, hy vọng người trẻ nghiêm túc nỗ lực, cả đời sẽ làm việc lớn này. Đây thật sự là điều mà Trương Tải nói “Vị thiên địa lập tâm, vị sanh dân lập mạng, vị vãng Thánh kế tuyệt học, vị vạn thế khai thái bình”, là sự nghiệp vĩ đại. Có người chịu phát tâm, thì tôi toàn tâm toàn lực làm hộ pháp, tôi đến hộ trì họ, đó là việc lớn. Hiện tại có chút diện mạo, người Anh quốc đang làm, vô cùng hiếm có. Chúng tôi cùng nhau nói chuyện qua mười mấy giờ đồng hồ, những điều tôi nói họ đều nghe hiểu được, đều có thể tin tưởng, không hoài nghi. Trường học đó muốn hợp tác với chúng tôi thành lập viện Hán Học, học viện của Hán Ngữ Cổ. Mục đích vô cùng đơn giản, bồi dưỡng một tốp người trẻ tuổi, có năng lực biết được chữ Hán, hiểu được Văn Ngôn Văn, có thể đọc Tứ Khố Toàn Thư, thì mục đích này của chúng tôi đạt được rồi. Chúng tôi mua rất nhiều Tứ Khố Toàn Thư, sẽ không thất truyền rồi, nhưng yêu cầu truyền nhân, yêu cầu truyền nhân thật sự dùng tinh lực, thời gian cả đời mình phụng hiến cho Hán Ngữ Cổ, tiếp nối văn hóa truyền thống 5000 năm, tạo phước toàn nhân loại; không những tạo phước toàn nhân loại hiện nay, mà tạo phước ngàn năm vạn đời về sau. Không đại sự nhân duyên nào qua được việc này, chúng ta phải biết như vậy.

Có đồng học đến thăm tôi, hôm qua phó hiệu trưởng của Đại học Nam Côn đến thăm tôi, chúng tôi cũng nói chuyện rất vui, ông ấy cũng rất mong, mấy ngày nữa, tôi đã hẹn hiệu trưởng, hiệu trưởng muốn đến thăm tôi, Đại học Nam Côn muốn làm. Toowoomba là nơi tốt, ở bên đó sẽ đào tạo ba mươi đến năm mươi thầy giáo hạt giống, rất có ý nghĩa, chúng tôi phải nỗ lực để làm sự việc này. Phát Bồ-đề tâm thì sẽ không có chướng ngại, vì có Phật Bồ Tát giúp đỡ. Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi, nơi dừng chân cuối cùng là vãng sanh Thế giới Cực Lạc, cầu sanh Tịnh-độ. Nên chúng tôi làm một đoàn thể rất nhỏ, chỉ có 30 đến 50 người, chúng tôi thật làm. Chúng tôi có một niệm Phật đường nhỏ, cũng chỉ có thể dung chứa ba mươi đến năm mươi người, đó là chỗ quy tụ cho mong cầu của chúng tôi, chính là Thế giới Tây Phương Cực Lạc. Ở đây chúng tôi giúp Phật hoằng dương Đại-thừa, làm cho Đại-thừa hưng vượng trở lại, chúng tôi giúp Tổ tông tiếp nối truyền thừa văn hóa của chúng ta, đó là thâm tâm của chúng tôi, là Bồ-đề tâm, là thâm tâm. Thâm tâm, thì trong Tứ Thiếp Sớ của Đại sư Thiện Đạo nói rất hay, cần nên ghi nhớ những điều đó.

二者,決定深信“Nhị giả, quyết định thâm tín”(Hai là nhất định tin sâu), bốn chữ này quan trọng, mở đầu điều thứ nhất ở trước cũng là nhất định tin sâu, mở đầu điều thứ hai cũng là nhất định tin sâu, 彼阿彌陀佛四十八願,攝受眾生,無疑無慮 “bỉ A Di Đà Phật tứ thập bát nguyện, nhiếp thọ chúng sanh, vô nghi vô lự”( bốn mươi tám nguyện của A Di Ðà Phật nhiếp thọ chúng sanh, không còn lo âu nghi ngờ gì), không có nghi hoặc, không có lo lắng. 乘彼願力,定得往生“Thừa bỉ nguyện lực, định đắc vãng sanh”(Nương theo nguyện lực của Ngài, thì quyết định được vãng sanh), đối với A Di Đà Phật, đối với Thế giới Cực Lạc phải tin đến như vậy. Lão Hòa thượng Hải Hiền xuất hiện ở thời đại chúng ta đây, chính là để dạy chúng ta phải thật sự tin tưởng A Di Đà Phật, phải tin tưởng Thế giới Cực Lạc, là sự thật, không phải giả. Ngài dùng 112 năm, niệm Phật 92 năm, thật công phu để làm chứng minh cho chúng ta. Ngài không có vọng ngữ, nếu chúng ta không tin tưởng, vậy thì chính là hạng xiển-đề nói trong kinh Phật. Xiển-đề là gì? Không có thiện căn, dù Phật đến cũng không có tác dụng. Thật sự tin tưởng 48 nguyện của A Di Đà Phật, để nhiếp thọ tất cả chúng sanh khắp pháp giới hư không giới cả quá khứ hiện tại vị lai. Thông thường trong điều này có người thêm hai chữ, là chúng sanh có duyên, tại sao vậy? Vì quý vị tin được, nếu quý vị không tin, thì trong chúng sanh được nhiếp thọ đó không bao gồm quý vị. Tại sao vậy? Quý vị có nghi ngờ, quý vị vẫn còn băn khoăn, vậy thì không phải là chúng sanh có duyên. Bởi chúng sanh có duyên thì không có nghi hoặc, vô nghi vô lự, vậy mới thật sự có thể tu Tịnh-độ, thật sự thành tựu được. Thế hiện tại chúng ta có nghi, có lo âu, mà chúng ta cũng biết, người nghi hoặc như vậy đi không được, làm sao đây? Tôi giới thiệu cho quý vị quyển sách này, chăm chỉ mà niệm một ngàn lần, thì nghi ngờ của quý vị không còn nữa, lo âu của quý vị cũng không còn, thật có hiệu quả, là sách hay đệ nhất của thiên hạ. Trước đây Đại sư Ấn Quang giới thiệu cho chúng ta, An Sĩ Toàn Thư là bộ sách hay đệ nhất trong gần 100 năm qua. Hôm nay, tôi giới thiệu cho mọi người quyển sách này, quyển sách này là sách hay đệ nhất trong 100 năm gần đây, không thể không đọc, sau khi đọc xong thì quý vị mới có thể kiên quyết một lòng, tín nguyện trì danh, thì tất sanh Tịnh-độ, nhất định vãng sanh. Vì vậy, thừa nguyện lực ấy, nhất định được vãng sanh.

Thứ ba, 迴向發願心者,從真實深信心中,以所修一切善根迴向,願生彼國Hồi hướng phát nguyện tâm giả, tùng chân thật thâm tín tâm trung, dĩ sở tu nhất thiết thiện căn hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc”(Hồi hướng phát nguyện tâm là: từ trong tâm tin tưởng chân thật sâu xa, đem tất cả thiện căn tu được hồi hướng nguyện sanh cõi ấy). Ý nghĩa của câu nói này là gì? Là ngày nay chúng ta tu hành, đem tất cả công đức tu được, tôi không cầu điều gì khác, tôi chỉ cầu sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc. Tôi không mong cầu phú quý của nhân gian, không mong cầu danh văn lợi dưỡng. Tất cả thế gian, bao gồm nhân gian, trên trời, phước trời tôi cũng không cầu, tôi cũng không cầu mười pháp giới, tôi chỉ cầu vãng sanh Thế Giới Cực Lạc, vậy thì đúng rồi. Hồi là quay về, hướng là phương hướng, phương hướng là Tây Phương, mục đích, mục tiêu là Thế Giới Cực Lạc. Tôi chỉ có một nguyện vọng đó thôi, niệm niệm không gián đoạn nguyện vọng đó, mỗi câu Phật hiệu đều là phương hướng, đều là mục tiêu đó. Cho nên pháp môn niệm Phật, cổ đức cũng gọi là pháp môn không hồi hướng, tại sao vậy? Vì tổng hồi hướng, chính là một phương hướng, một mục tiêu, ngoài điều này ra không cầu gì khác, hồi hướng như vậy, mà không hồi hướng vẫn là như vậy. Ngay trong mỗi câu Phật hiệu đều có hồi hướng, trong mỗi câu hồi hướng đều có A Di Đà Phật, đều có tín nguyện trì-danh, đoạn ác tu thiện ngay trong cuộc sống hàng ngày, tất cả công đức đều hồi hướng vãng sanh Thế Giới Cực Lạc, đều buông xuống tất cả thiên thượng nhân gian trong sáu đường rồi. 由上可見《要解》所謂之信願,即《觀經》之三心“Do thượng khả kiến Yếu Giải sở vị chi tín nguyện, tức Quán Kinh chi tam tâm”(Do đó, có thể thấy:“tín nguyện”mà sách Yếu Giải nói, chính là ba tâm của Quán kinh). Ba tâm chính là Bồ-đề tâm. 《觀經》之三心,即本經中菩提心。故知今經之發菩提心,即《彌陀要解》之信願 Quán Kinh chi tam tâm, tức bổn kinh trung Bồ-đề tâm. Cố tri kim kinh chi phát Bồ-đề tâm, tức Di Đà Yếu Giải chi tín nguyện(Ba tâm của Quán kinh chính là Bồ-đề tâm nói trong kinh này. Nên biết ‘phát Bồ-đề tâm’ nói trong kinh này, chính là ‘tín nguyện’ nói trong Di Ðà Yếu Giải). Thật tin tưởng, thật mong muốn vãng sanh. Nếu không phải là ba loại tâm: chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm, vậy thì không tương ưng với những điều nói trong sách Yếu Giải, chúng ta không thể không biết điều này.

又一向專念即持名也。由於阿彌陀經大小二本,原是一經。是以兩者之宗,實應一旨也。“Hựu nhất hướng chuyên niệm tức trì danh dã. Do ư A Di Đà Kinh đại tiểu nhị bản, nguyên thị nhất kinh. Thị dĩ lưỡng giả chi tông, thật ứng nhất chỉ dã.”(Hơn nữa,‘nhất hướng chuyên niệm’ chính là trì-danh. Do hai bản Ðại, Tiểu Kinh A Di Ðà, vốn chỉ là một kinh, nên tông của hai kinh tất phải đồng nhất). Tiểu Bản là Kinh A Di Đà, Đại Bản là Kinh Vô Lượng Thọ, đều là một bộ kinh, là một tông chỉ, một thủ hướng. Tiểu Bản nói đơn giản trọng tâm, tiện cho đọc tụng; còn Kinh Vô Lượng Thọ là đại kinh, phân lượng nhiều, nói được tường tận, nói rõ ràng, nói minh bạch. Tuy là nói tường tận, nói minh bạch rồi, nhưng nếu không có người giải thích cho chúng ta, thì chúng ta vẫn không lãnh hội được. Nên Hoàng Niệm lão vì bộ kinh này đã làm chú giải rất kỹ càng tỉ mỉ, kinh là hội tập, chú giải cũng là hội tập, thật diệu! Kinh là từ năm bản dịch gốc hội tập thành, không có sửa đổi một chữ, cho nên nói kinh ấy là chân kinh, không thể hoài nghi. Mỗi câu đều là nguyên văn nguyên chữ của năm bản dịch gốc, không có thay đổi. Thì làm sao quý vị có thể phê bình đó là giả, phê bình đó là ngụy tạo chứ? Vậy thì tội lỗi rất nặng, không thể được. Chú giải cũng như vậy, có phải do Hoàng Niệm Tổ chú giải không? Niệm lão sẽ nói không phải, mà tôi là sao chép lại; sao chép lại từ đâu? Chép lại từ trên kinh luận, là lời của Phật, sao chép lại từ trong chú giải của Tổ sư Đại đức, Tổ sư đại đức có tu có chứng, có thể tin tưởng. Không phải là chú giải thông thường, quý vị thấy mỗi một đoạn ngài đều có mở ngoặc đơn, viết ra xuất xứ của đoạn đó, chịu trách nhiệm. Cho nên chú giải là tập chú, tập hợp kinh Phật và chú sớ của Tổ sư đại đức để chú giải bộ kinh Vô Lượng Thọ, cũng vì giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín, chúng ta xem thì chẳng còn gì để nói nữa. Nên tông chỉ của Đại Bản và Tiểu Bản là tương đồng.

發菩提心已詳述於明宗章中“Phát Bồ-đề tâm dĩ tường thuật ư minh tông chương trung”(Trong phần giảng về tông đã nói kỹ về phát Bồ-đề tâm), điều này thì không cần thiết nữa, vì trước đây chúng ta đã giảng qua rồi, thế nhưng đã mấy năm rồi, đã giảng lúc hai, ba năm trước. Bây giờ bổ sung chính là Tịnh Tu Tiếp Yếu Báo Ân Đàm, trong đây hoàn toàn có thể nói là: Hoàng Niệm lão đã chú thích bộ kinh này là tập chú, đó là báo cáo tâm đắc của ngài, là bổ sung của tập chú. Quý vị xem quyển sách đó, thì quý vị mới có thể nhận ra báo cáo tâm đắc viên mãn của ngài. Phải xem chung với quyển chú giải này, xem quyển đó trước, sau đó xem thêm chú giải, thì quý vị rất dễ hiểu được. Quyển đó nói càng tường tận hơn, thấu triệt hơn. Quyển đó thật sự, hoàn toàn là báo cáo tâm đắc. Ngài không phải là công khai diễn giảng, thính chúng của ngài chỉ có năm, sáu người, năm, sáu người thường thường tiếp cận ngài, ở trong nhà ngài, phòng ngủ của ngài. Phòng ngủ cũng là phòng khách, ngài chỉ có một gian phòng, một cái giường, một bàn sách, thêm một kệ sách, bày đầy nguyên bản của quyển chú giải này, gồm 193 nguyên bản. Tôi đến phòng ngài để xem qua, tôi thấy rồi rất khâm phục, tôi nói: những sách tham khảo này ngài tìm ở đâu ra vậy? Những quyển này tìm không thấy, làm sao ngài tìm được nhiều như vậy? Ngài nói: là cảm ứng, Phật Bồ-tát giúp đỡ tìm ra đấy. Không những quyển ngài muốn thì tìm thấy tất cả, mà những sách không nghĩ cũng đến, là thành tựu bộ Khoa Chú Chú Giải này. Bộ Chú Giải này là chánh tri chánh kiến, Phật tri Phật kiến, rất quan trọng! Hai quyển sách này thì có thể cứu tất cả chúng sanh trong 9000 năm mạt pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng ta phải tin tưởng. Tiếp theo ngài dẫn thêm từ sách An Lạc Tập, trong đó nói rõ Bồ-đề tâm, tuyển chọn lấy mấy điều, 以便參會“dĩ tiện tham hội”(để tiện tham khảo tổng kết), đây chỉ là tham khảo, tham là tham khảo, hội là tổng kết, từ tìm xem nhiều quyển sách.

Chúng ta xem, ngài còn có chú giải đơn giản: 道綽大師“Đạo Xước Đại sư”(Đại sư Đạo Xước), An Lạc Tập là tác phẩm của Đại sư Đạo Xước, 於發菩提心有四番議論“ư phát Bồ-đề tâm hữu tứ phiên nghị luận”(đối với phát Bồ-đề tâm có bốn điều nghị luận). Bốn điều này đều trích ra ở trong sách đó. 第一,顯菩提心之功用“Đệ nhất, hiển Bồ-đề tâm chi công dụng”(Một là nói rõ công dụng của Bồ-đề tâm). Trong An Lạc tập nói: 第一、出菩提心功用者。《大經》云“Đệ nhất, xuất Bồ-đề tâm công dụng giả. Đại Kinh vân”(Thứ nhất là nêu lên công dụng của Bồ-đề tâm. Thì Ðại Kinh nói), Đại kinh chính là Kinh Vô Lượng Thọ, 凡欲往生淨土,要須發菩提心為源phàm dục vãng sanh Tịnh-độ, yếu tu phát Bồ-đề tâm vi nguyên”(phàm muốn vãng sanh Tịnh-độ, thì phải lấy Bồ-đề tâm làm nguồn). Sông Trường Giang, Hoàng Hà đều có đầu nguồn, tìm ra nguồn nước. Vãng sanh đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc, đó là Liên Trì Hải Hội, vậy đầu nguồn của Liên Trì Hải Hội ở đâu? Ở Bồ-đề tâm. Hay nói cách khác: Liên Trì Hải Hội là quả báo mà A Di Đà Phật khi ở nhân địa phát đại Bồ-đề tâm, chúng ta không thể không biết chân tướng sự thật này, nên phát Bồ-đề tâm như thế là vô cùng quan trọng.

Chúng ta lại xem tiếp, 云何?“vân hà?”(tại sao?), ở đây là một dấu hỏi, tại sao vậy? 菩提者,乃是無上佛道之名“Bồ-đề giả, nãi thị Vô Thượng Phật đạo chi danh”(Bồ-đề chính là tên gọi của Phật đạo Vô Thượng). Bồ-đề là Phạn ngữ, dịch thành ý nghĩa của Trung Văn là giác ngộ. Chữ giác ngộ này không phải giác ngộ bình thường, bình thường chúng ta dùng đại triệt đại ngộ để dịch Bồ-đề, đại triệt đại ngộ vẫn không thể tải hết nghĩa của chữ đó. Thế nào mới gọi là đại triệt đại ngộ? Minh tâm kiến tánh, đó là đại triệt đại ngộ, đó chính là Vô Thượng Bồ-đề, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh đạt được cứu cánh viên mãn rồi. Nói cách khác, giống như hình dung của Đại sư Huệ Năng, kiến tánh, tánh là dạng ra sao? Tánh chính là chân-tâm, chân-tâm chính là Bồ-đề tâm, vậy mới biết được. Đại sư Huệ Năng nói tánh, chúng ta thì dùng Bồ-đề tâm, Bồ-đề tâm ‘vốn tự thanh tịnh’, chưa từng ô nhiễm, là chân-tâm. Ô nhiễm là vọng-tâm, rất đáng thương, chúng ta dùng vọng-tâm, vọng-tâm ô nhiễm. Còn chân-tâm, bất luận vào lúc nào, mọi lúc mọi nơi, chưa từng ô nhiễm. Đó là thật. Điều thứ hai ‘không sanh không diệt’, chân-tâm không có sanh diệt, có sanh diệt là vọng-tâm, không phải Bồ-đề tâm, Bồ-đề tâm không sanh không diệt. Điều thứ ba ‘vốn tự đầy đủ’, đầy đủ điều gì? Là vô lượng trí huệ, vô lượng công đức, vô lượng đức năng, vô lượng tướng hảo, vô lượng trang nghiêm, vốn là đầy đủ như vậy. Bên ngoài Bồ-đề tâm không có một pháp, tất cả pháp đều là trong Bồ-đề tâm vốn có, có duyên thì hiện ra, không có duyên thì nó không có, không phải mất hẳn, lúc không có duyên không thể nói nó không có, lúc có duyên hiện tướng không thể nói tướng đó là có, nó không có nhị biên cũng không được. ‘Vốn không dao động’, Bồ-đề tâm chưa từng động, giống như biển lớn vậy, biển lớn còn có sóng gió, nước còn có chỗ động, còn Bồ-đề tâm như biển lớn mà không có sóng gió, luôn tịnh, không nhìn thấy hiện tượng nước động, không có lay động. Câu cuối cùng ‘năng sanh vạn pháp’, vạn pháp chính là toàn vũ trụ, toàn vũ trụ quá khứ hiện tại vị lai tất cả đều là do nó hiện ra. Vì do Tự-tánh của quý vị sở hiện, nên nếu quý vị kiến tánh rồi, thì có đạo lý nào lại không biết chứ?

Tất cả chư Phật đều kiến tánh rồi, tất cả chư Phật đều đạt được bình đẳng rốt ráo, điều tôn Phật này thấy hoàn toàn tương đồng với điều tôn Phật kia thấy, không có một chút sai biệt nào. Nếu mọi người chúng ta kiến tánh, thì cũng nhập cảnh giới đó, hoàn toàn giống với chư Phật. Đó là bản thể của tất cả vạn pháp, danh từ Tịnh-tông gọi Thường-tịch-quang, tốt nhất là dùng từ Thường-tịch-quang, chữ ‘độ’ cũng không cần, chữ ‘độ’ là kết hợp với bốn độ mà nói, nó chính là Thường-tịch-quang, không chỗ nào mà không có, không lúc nào mà không có. Hôm nay, chúng ta cũng đang ở trong Thường-tịch-quang. Vì vậy, chư Phật Như Lai xem thấy chúng ta rất là rõ ràng, thấy rõ khởi tâm động niệm của chúng ta, thì quý vị giấu giếm ai được? Chỉ có thể giấu giếm chính mình, tự mình lừa gạt chính mình, không giấu giếm được Phật Bồ-tát đâu. Chỉ cần là Pháp-thân Bồ-tát, thì quý ngài đã nhập vào trong đó rồi, tuy là chưa có viên mãn, chỉ được một phần; một phần khởi tác dụng, biến chiếu quang đó! Ánh sáng của quý ngài yếu một chút, nhỏ một chút, chiếu được rồi, không phải không chiếu được, đều chiếu được rồi, chỉ cần chứng được pháp-thân thì được. Pháp-thân là gì? Pháp-thân chính là Thường-tịch-quang. Nên Phật có ba thân là: pháp- thân, báo-thân, ứng-hóa-thân. Thế giới Cực Lạc có bốn độ, Thường-tịch-quang, Thường-tịch-quang không có hiện tượng vật chất, cũng không có hiện tượng tinh thần, ngay cả hiện tượng tự nhiên cũng không có. Không những chúng ta không có cách nào biểu đạt bằng lời nói, mà cũng không thể biểu đạt bằng ngôn ngữ, tâm nghĩ cũng nghĩ không ra, tức là: ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, đó là Tự-tánh.

Cổ đức Tiên Hiền của Trung Hoa đạt được, đến cảnh giới này chính là viên mãn thành Phật. Tại sao chúng ta biết? Trong sách Đại Học có, tức là có nói, quý vị xem mở đầu của sách Đại Học: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”, quý vị nói đó có phải là đại Bồ-đề tâm không? Có phải là Thế giới Cực Lạc hay không? Minh đức chính là Tự-tánh, minh là quang minh, không có chướng ngại, trí huệ viên mãn. Còn Đại sư Huệ Năng nói vốn tự đầy đủ, điều thứ nhất là đầy đủ vô lượng trí huệ; minh đức, minh chính là vô lượng trí huệ, mà trong Tự-tánh vốn có. Minh minh đức là thế nào? Bây giờ minh đức không có, bị mê rồi, minh đức là chân-tâm, hiện tại không minh là vọng-tâm. Mục đích của dạy học là minh minh đức, đem minh đức khôi phục quang minh lại, đó không phải là chứng nhập Thường-tịch-quang sao? Sau khi chứng nhập Thường-tịch-quang, thì khởi lên tác dụng chính là ‘thân dân’, ‘thân dân’ tức là phổ độ chúng sanh. Hiện giờ, tôi quay về Thường-tịch-quang, vẫn còn biết bao nhiêu chúng sanh mê hoặc điên đảo, tôi muốn làm sao giúp đỡ tất cả họ đều quay về Thường-tịch-quang, đó là ‘thân dân’. Tiếp theo là ‘chỉ ư chí thiện’, ngày nay chúng ta giúp đỡ mọi người vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc chính là ‘chỉ ư chí thiện’, tại sao vậy? Vì họ nhất định chứng được Thường-tịch-quang, nhất định được minh minh đức. Làm rõ ràng, thấy rõ rồi, thì tôn giáo vốn là một nhà.

A Di Đà Phật ở Thế giới Cực Lạc thuyết vô lượng Pháp môn vì tất cả chúng sanh, thuyết tám 84 ngàn Pháp môn, phải biết rằng: nhiều Pháp môn như vậy là cùng một Pháp môn. Tại sao vậy? Vì đi vào là cùng một nơi, giống căn phòng chúng ta đây, có mấy cửa ra vào, tùy lúc thuận tiện đi vào đều là chứng được viên mãn. Bên ngoài có: Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo, đó là cửa bên ngoài, đi vào thì sao? Giống nhau. Chúng ta gọi đó là Thế giới Cực Lạc, Cơ Đốc giáo gọi Thiên đường, Hồi giáo gọi Thiên Viên, là một nơi, không phải hai nơi. Tương lai đi vào rồi, nếu họ tu hành tu thành công rồi, đến Thiên đường của họ, chúng ta đi đến nơi đó, chúng ta gọi đó là Thế giới Cực Lạc, họ gọi là Thiên đường. Quý vị thấy cùng một chỗ, mà tên gọi khác nhau. Cho nên ngày đó, chúng tôi ở nước Anh, tụ hội bạn bè 11 tôn giáo, mọi người đều hướng đến đại đoàn kết tôn giáo, là việc tốt! Chúng tôi tặng họ bốn câu nói: “Chúng Thần là một thể, tôn giáo là một nhà, đối đãi bình đẳng, hòa thuận với nhau”. Chúng tôi đến nước Anh, cũng muốn giúp đỡ họ đoàn kết tôn giáo, thật là không dễ dàng.

Thiền sư Đạo Xước có bốn điều nghị luận đó, giảng Bồ-đề tâm cho chúng ta, nói rất hay! Đây là Đại đức Tịnh-độ tông chúng ta. Ngài Hạ Liên Cư và Hoàng Niệm Tổ đều chủ trương phải đem ngài Đàm Loan, Đạo Xước trở về đến địa vị Tổ sư của chúng ta: sơ tổ Tịnh-tông là Đại sư Huệ Viễn, nhị tổ là ngài Đàm Loan, tam tổ là ngài Đạo Xước, tứ tổ là ngài Thiện Đạo. Tại sao lúc trước chưa sắp xếp đưa quý ngài vào? Bởi trước tác của quý ngài thất truyền rồi. Ngày nay tìm được ở Nhật Bản, như là quyển An Lạc Tập này, Trung Quốc không có, từ Nhật Bản tìm lại được. Đây là chú giải đối với kinh luận Tịnh-tông, giảng rất hay, đúng là Tổ sư, không phải người phàm. Cho nên, phía sau Tịnh Tu Tiệp Yếu nói đến lịch đại Tổ sư của Tịnh-tông chúng ta, chúng tôi đã đặt quý ngài vào rồi.

Chúng ta đem đoạn này đọc tiếp: 若欲發心作佛者,此心廣大,周遍法界。此心究竟,等若虛空。此心長遠,盡未來際。此心普備,離二乘障。若能一發此心,傾無始生死有淪。所有功德迴向菩提,皆能遠詣佛果,無有失滅。“Nhược dục phát tâm tác Phật giả, thử tâm quảng đại, chu biến pháp giới. Thử tâm cứu cánh, đẳng nhược hư không. Thử tâm trường viễn, tận vị lai tế. Thử tâm phổ bị, ly nhị thừa chướng. Nhược năng nhất phát thử tâm, khuynh vô thỉ sanh tử hữu luân. Sở hữu công đức hồi hướng Bồ-đề, giai năng viễn nghệ Phật quả, vô hữu thất diệt”(Nếu muốn phát tâm làm Phật, thì tâm ấy rộng lớn trùm khắp pháp giới. Tâm ấy rốt ráo, ngang với hư không. Tâm ấy lâu xa đến cùng tận đời vị lai. Tâm ấy trọn khắp, lìa nhị thừa chướng. Nếu phát được tâm ấy thì khuynh đảo được sanh tử vô thỉ và trầm luân. Ðem tất cả công đức hồi hướng Bồ-đề thì đều đạt được Phật quả, chẳng bị diệt mất). Đó là nguyên văn, tiếp theo là chú giải của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Lão. Thời gian hôm nay hết rồi, buổi giảng sau, chúng ta sẽ giảng từ chỗ này.

( Hết tập 308)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Chóng viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.