CN. Th5 29th, 2022

 TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4)

Tập 309 – PHẨM 24: TAM BỐI VÃNG SANH (Ba Bậc Vãng Sanh)

Hòa thượng Tịnh Không chủ giảngGiảng tại: Tịnh Tông Học Viện Australia.

Thời gian: Ngày 15 tháng 2 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Thích Thiện Trang.

 

         Kính chào: chư vị Pháp sư, quý vị đồng học, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

         A-xà-lê tồn niệm, ngã đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn.  (3 lần)

         Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 738, chúng ta bắt đầu xem từ hàng thứ 6:

         道綽大師於發菩提心有四番議論“Đạo Xước Đại sư ư phát Bồ-đề tâm hữu tứ phiên nghị luận”(Đại sư Đạo Xước đối với phát Bồ-đề tâm có bốn điều nghị luận). Tiếp theo, bốn đoạn này đều được hội tập ở đây. 第一,顯菩提心之功用“Đệ nhất, hiển Bồ-đề tâm chi công dụng”(Một là nói rõ công dụng của Bồ-đề tâm). Biết công dụng thì biết tại sao phải phát Bồ-đề tâm, tại sao phải tu Bồ-tát hạnh, thì ở đây đã làm rõ ràng, sáng tỏ. Công dụng của Bồ-đề tâm là quá lớn, nói không cùng tận, tại sao vậy? Bởi vì Bồ-đề tâm có thể sanh vạn pháp, vạn pháp là toàn vũ trụ. Bồ-đề tâm chính là chân-tâm, Bồ-đề tâm chính là tự-tánh. Toàn bộ vũ trụ từ đâu đến vậy? Trên Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta: do tâm hiện, tâm ấy chính là Bồ-đề tâm. Bồ-đề tâm là chân-tâm, không phải vọng-tâm, chân-tâm có thể hiện, vọng-tâm có thể biến, vọng-tâm là A-lại-da; Nói cách khác, chúng ta không thể sanh chân-tâm, mà chắc chắn sanh vọng-tâm. Nếu như hai loại tâm này đều không sanh, thì là cảnh giới gì? Là Thường-tịch-quang, thế thì viên mãn rồi. Không thể không sanh.

         Ở trong mười pháp giới, trong mười pháp giới bao gồm tất cả cõi nước chư Phật, tất cả cõi nước chư Phật bao gồm ở nơi nào? Ở Pháp giới Phật, cao nhất của mười pháp giới là pháp giới Phật. Trong pháp giới Phật, như Thế Giới Cực Lạc, là pháp giới Phật, lại chia thành bốn độ, chư vị đều đã biết gồm có: Đồng-cư-tịnh-độ, Phương-tiện-hữu-dư, Thật-báo-trang-nghiêm, Thường-tịch-quang-độ, toàn là do tâm hiện ra. Nếu như không phải là chư Phật, Bồ-tát, Thanh-văn sở hiện thì sao? Hai loại đó đều khởi tác dụng, tức là: chân-tâm, vọng-tâm đều khởi tác dụng. Hiện của chân-tâm là Phương-tiện-độ, Thật-báo-độ, còn hiện vọng-tâm là sáu đường luân hồi. Chúng ta nói là tam giới gồm: dục-giới, sắc-giới, vô-sắc-giới, là do thức biến, do vọng-tâm biến hiện ra. Vọng-tâm dựa vào gì để biến ra? Dựa vào chân-tâm biến ra. Vọng dựa vào chân, chân không dựa vào vọng, thì quý vị liền hiểu Bồ-đề tâm quan trọng rồi. Bồ-đề tâm là chân-tâm, chúng tôi nói thêm một câu rất rõ ràng: dùng chân tâm là chân nhân. Câu này mọi người dễ hiểu, dùng vọng-tâm là giả nhân, giả nhân không phải là người, dùng chân-tâm mới là người. Tôi nói rõ như vậy, thì mọi người dễ hiểu.

         Tại sao lại học Phật? Vì chúng ta hy vọng từ giả nhân trở về được chân nhân, đó gọi là học Phật. Phật và Bồ-đề là một ý nghĩa, Bồ-đề dịch là ‘giác’, Phật dịch là ‘giác giả’, người giác ngộ gọi là Phật, người giác ngộ dùng Bồ-đề tâm, khác nhau ở chỗ này. Giác ngộ thì không những thông được pháp xuất thế gian, mà còn thông cả pháp thế gian. Trong pháp thế gian thì gọi là người thật thà, người thật thà rất đáng quý, thế nào là người thật thà? Người thật thà là người nói lời thật, không có vọng ngữ, không dối gạt chính mình. Cho dù người thật thà bên trong dùng vọng-tâm, nhưng họ vẫn có thành phần chân-tâm tồn tại, vẫn có một chút xíu như thế, nhưng một chút đó vô cùng trân quý. Nếu như gặp được giáo dục Thánh Hiền, thì liền nắm chắc điểm giáo dục Thánh Hiền, để từ từ lọc bỏ sạch sẽ tập khí của vọng-tâm, trở về chân-tánh viên mãn, vậy gọi là thành Phật, vậy gọi là thành Thánh nhân rồi.

Sự việc này, tất cả chúng sanh chưa có rời khỏi. Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, không có gì không phải là chân-tâm và vọng-tâm giao thoa vào nhau, để hiện ra cảnh giới ấy, chúng ta nói chân tướng sự thật, chính là ở ngay trước mắt, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, nắm lấy tướng đó, thì chính là không ngộ. Còn ngộ rồi thì không việc gì, không ngộ thì tạo nghiệp, khởi tâm động niệm tạo nghiệp, ngôn ngữ tạo nghiệp, hành động tạo nghiệp. Nghiệp thì có: thiện, ác, vô ký. Vô ký là gì? Không thể nói rõ là thiện ác, giống như: khát nước, uống một ly nước, thì không thể nói là thiện ác, đó là nghiệp vô ký. Nghiệp vô ký không có quả báo, thế nhưng nó có vấn đề, vấn đề gì? Là mê hoặc điên đảo, họ không giác ngộ. Cho nên trong tham sân si, thì họ không có tham, không có sân, nhưng họ có si. Những điều này, đồng học học Phật chúng ta, đặc biệt là học Đại-thừa, phải làm rõ ràng, phải làm sáng tỏ, sau đó hồi quang phản chiếu, thì tìm thấy vấn đề của chính mình rồi. Sau khi tìm thấy thì sửa lỗi lầm, đó gọi là tu hành, hành là hành vi, tu là sửa chữa, sửa đổi, sửa đổi hành vi sai lầm của chúng ta, quay về Vô-thượng Bồ-đề, quay về tự-tánh, đó gọi là chân tu.

Trong sách An Lạc Tập nói, 第一出菩提心功用“Đệ nhất xuất Bồ-đề tâm công dụng”(Thứ nhất là nêu lên công dụng của Bồ-đề tâm), đem công dụng của Bồ-đề tâm nói ra cho chúng ta. 《大經》云“ Đại Kinh vân”(Đại kinh nói), không có nói là bộ đại kinh nào, thế thì hễ nói Đại Kinh đều là chỉ cho Kinh Vô Lượng Thọ, là Tịnh Độ Đại Kinh. 凡欲往生淨土,要須發菩提心為源“Phàm dục vãng sanh Tịnh-độ, yếu tu phát Bồ-đề tâm vi nguyên”(phàm muốn vãng sanh Tịnh-độ, thì phải lấy Bồ-đề tâm làm nguồn). Nguồn là nguồn gốc, nếu quý vị không phát Bồ-đề tâm, thì không thể vãng sanh. Bồ-đề tâm quan trọng, tại sao vậy? 菩提者,乃是無上佛道之名也。若欲發心作佛者,此心廣大,周遍法界。此心究竟,等若虛空。此心長遠,盡未來際。此心普備,離二乘障“Bồ đề giả, nãi thị vô thượng Phật đạo chi danh dã. Nhược dục phát tâm tác Phật giả, thử tâm quảng đại, chu biến pháp giới. Thử tâm cứu cánh, đẳng nhược hư không. Thử tâm trường viễn, tận vi lai tế. Thử tâm phổ bị, ly nhị thừa chướng”(Bồ-đề chính là tên gọi của Phật đạo Vô Thượng. Nếu muốn phát tâm làm Phật, thì tâm ấy rộng lớn trùm khắp pháp giới. Tâm ấy rốt ráo, ngang với hư không. Tâm ấy lâu xa đến cùng tận đời vị lai. Tâm ấy trọn khắp, lìa Nhịthừa chướng). Mấy câu nói này, đã nói ra tác dụng của Bồ-đề tâm. Chúng ta quay lại tự hỏi chính mình xem, thì hoàn toàn rõ ràng thôi.

Điều thứ nhất, chúng ta xác xác thật thật là chưa có phát tâm làm Phật. Nên dù học thế nào, học mấy mươi năm, học cả đời, học vô lượng kiếp rồi, mà cũng vẫn là phàm phu, đây là đạo lý gì? Là tâm của chúng ta là tâm của phàm phu lục đạo. Đó là mê hoặc điên đảo, mê hoặc điên đảo nghiêm trọng, còn tự cho mình là đúng. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ việc làm không có gì mà không phải là nghiệp, là tạo nghiệp, nghiệp gì? Nghiệp luân hồi. Quý vị tạo nghiệp thiện, thì sanh ba đường thiện, quý vị tạo nghiệp ác, thì sanh ba đường ác, quý vị không ra khỏi được sáu đường luân hồi. Tại sao vậy? Vì không có tâm xuất ly sáu đường luân hồi, không có nguyện vọng ấy, vẫn muốn ở trong đó đấu tranh, đấu tranh kiên cố. Có phải là như vậy hay không? Đúng rồi! Nếu như không đấu tranh, thì thế giới này làm sao lại hỗn loạn như vậy? Làm sao lại có nhiều tai biến như vậy? Đó là hoa báo ở trước mắt, còn quả báo ở đời sau, đời sau là quả báo, trước mắt là hoa báo, thật quá đáng sợ! Việc này chưa kết thúc đâu, vì đời đời kiếp kiếp, càng mê càng nghiêm trọng.

Quý vị xem mấy câu nói này của Thiền sư Đạo Xước, không phát tâm làm Phật, tâm làm Phật này rộng lớn, trùm khắp pháp giới. Chúng ta khởi tâm động niệm là nghĩ điều gì? Đều nghĩ danh văn lợi dưỡng của chính mình, đều nghĩ lợi hại cho chính mình, không buông xuống được. Có mấy người nghĩ đến trùm khắp pháp giới? Ai nghĩ đến? Còn lớn hơn tam thiên đại thiên thế giới, tam thiên đại thiên thế giới là một Phật độ. Nhỏ thêm một tí đi, ai khởi tâm động niệm nghĩ đến chúng sanh khổ nạn của toàn cầu? Không ai nghĩ đến. Ai nghĩ đến đất nước của mình, nghĩ đến khu vực này? Cũng không ai nghĩ đến. Khởi tâm động niệm đều là nghĩ chính mình, nhiều lắm là nghĩ đến người sống chung nhà với quý vị, quý vị chỉ nghĩ đến bao nhiêu đó, phạm vi này nhỏ biết bao! Thật là tiểu nhân, không có tâm lượng lớn. Còn chân-tâm là trùm khắp pháp giới, chân-tâm là tâm đại Bồ-đề, là tâm làm Phật.

Vì sao Đại sư Huệ Năng khai ngộ? Quý vị nghiêm túc mà đọc Đàn Kinh, thì quý vị sẽ phát hiện ra: ngài niệm niệm hy vọng làm Phật, niệm niệm mong độ chúng sanh, không cảm nhận đến nỗi khổ của chính mình. Chúng ta nhìn thấy được: chính ngài không có cảm nhận đến, chính ngài pháp hỷ sung mãn, thường sanh tâm hoan hỷ. Giống như chúng ta nhìn thấy Khổng Lão Phu Tử rất khổ, không có địa vị, không có giàu có, gia cảnh không phải rất tốt, trải qua cuộc sống bình dân thông thường, nhưng không có ai có thể sánh với ngài, tại sao vậy? Vì ngài an vui. Niềm vui từ đâu mà đến? Từ “học”,“tập”, ngài học cổ Thánh Tiên Hiền. Nghiêu Thuấn Vũ Thang, Văn Vũ Chu Công là đối tượng mà Khổng Phu Tử học tập, ngài đặc biệt kính ngưỡng, khâm phục đối với Chu Công. Ngài học những vị ấy, những vị ấy là tấm gương của ngài, vì tâm lượng lớn! Trên Hoa Nghiêm Kinh nói với chúng ta, chân-tâm của chúng ta bao lớn? Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới, lượng là có thể bao dung, bao dung khắp pháp giới hư không giới. Chân-tâm, tự-tánh, năng sanh năng hiện, năng dung năng bao. Thời cổ Trung Hoa xưng người đó là đại nhân, đại nhân là tâm lượng lớn như vậy.

Câu tiếp theo, 此心究竟,等若虛空“Thử tâm cứu cánh, đẳng nhược hư không”(Tâm ấy cứu cánh, ngang với hư không). Vậy thì còn gì bằng! Tâm giống như hư không, bình đẳng như hư không. Trong hư không thứ gì cũng không có, Đại sư Huệ Năng nói rất hay: “Xưa nay không một vật”. Ngày nay, tâm chúng ta đây không phải là hư không, trong tâm chứa quá nhiều thứ, dường như sắp đầy rồi. Nếu như quý vị không tin, thì quý vị ngồi ở đó một phút, hai phút, mà quan sát vọng niệm của quý vị. Vọng tưởng, tạp niệm của quý vị, niệm trước diệt niệm sau sanh, niệm niệm liên tục, không hề có gián đoạn. Ngay cả ngủ mà còn nằm mơ, đó là trong tâm vọng tưởng, tạp niệm quá nhiều quá nhiều rồi. Chân-tâm thì sao? Chân-tâm giống như hư không vậy, một ý niệm cũng không có, nói với quý vị: ý niệm về Phật cũng không có.

Ngày nay, chúng ta niệm Phật, chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ, bởi vì sao? Vì nơi chúng ta đây, nếu muốn được tâm thanh tịnh là khó, không đạt được, không dễ dàng khôi phục được chân-tâm. Nên chúng ta chỉ đặt vào A Di Đà Phật, chính là chúng ta chỉ nghĩ đến Thế Giới Cực Lạc. Nói với quý vị, nếu quý vị đặt hai thứ vào thì đi không được, vậy xong quý vị rồi. Quý vị nói: tôi vừa muốn đến Thế Giới Cực Lạc, tôi lại muốn học Địa Tạng Vương Bồ Tát, vậy được hay không? Nói với quý vị “được” là gạt quý vị thôi, là không chịu trách nhiệm đâu. Nói lời thật với quý vị là: “không được”. Quý vị muốn tu Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát là bổn-tôn của quý vị, thì quý vị đừng niệm Phật, mà chuyên niệm Địa Tạng Bồ Tát, thì quý vị mới thành công được. Cho dù quý vị không thể thoát ly lục đạo luân hồi, nhưng quý vị sẽ không đọa ba dường ác, vì Địa Tạng Bồ Tát sẽ gia trì cho quý vị. Nếu như quý vị dụng công phu đắc lực, thật sự đi con đường Giới Định Huệ, thì quý vị sẽ đắc tam-muội, quý vị sẽ khai ngộ, quý vị có thể chứng quả. Chứng đắc sơ quả Tu-đà-hoàn Tiểu-thừa, tới lui bảy lần cõi trời cõi người, thì chứng A-la-hán, siêu vượt lục đạo luân hồi, con đường quý vị đi là như vậy. Nếu hợp hai con đường lại để đi một lượt, thì đi không thông, đạo lý này phải hiểu.

Một câu A Di Đà Phật, xác thực là bao gồm vô lượng pháp môn rốt ráo viên mãn của chư Phật Bồ Tát, niệm Phật có thể được vậy. Tại sao? Quý vị không cần đi niệm quý ngài, vì quý ngài ở trong Phật hiệu, quý ngài không ở ngoài Phật hiệu, Phật hiệu bao gồm quý ngài rồi. Tất cả chư Phật Bồ-tát, tất cả kinh điển Đại Tiểu-thừa, Tông môn Giáo hạ, Hiển giáo Mật giáo, cả thảy đều ở trong một câu danh hiệu A Di Đà Phật. Quý vị niệm một câu Phật hiệu này, lão lão thật thật niệm, thì đều niệm toàn bộ rồi, một chút cũng không thiếu; quý vị muốn thêm một chút vào trong đó, tăng thêm một tí thì xong rồi, là quý vị đem phá hỏng toàn bộ rồi. Tôi nói lời chân thật với mọi người: là không thể được.

Tôi đã học Phật 65 năm, hiểu rõ rồi. Đặc biệt là dạo gần đây, tôi thích xem sách Báo Ân Đàm của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, tôi xem gần 100 lần, thật sự làm rõ ràng, làm sáng tỏ rồi. Công đức Phật hiệu không thể nghĩ bàn, mọi người nghe đến quen tai, cũng đều biết nói, nhưng không biết ý nghĩa, cho nên công phu của quý vị không đắc lực. Trong câu Phật hiệu của quý vị còn xen lẫn bao nhiêu là vọng tưởng, bao nhiêu là tạp niệm, bao nhiêu phân biệt, bao nhiêu chấp trước, vì vậy Phật hiệu không đắc lực. Lão Hòa thượng Hải Hiền niệm Phật, là tiếng tiếng đắc lực, câu câu đắc lực, tại sao vậy? Vì ngài không có vọng tưởng, không có tạp niệm, ngài chỉ có: thanh tịnh, bình đẳng, giác. Thanh tịnh bình đẳng giác là gì? Thanh tịnh bình đẳng giác là tự-tánh, là tánh-đức.

Thanh tịnh tâm hỷ duyệt, pháp hỷ này là hiển lộ từ trong ra ngoài, không phải từ ngoài đến, mà trong tự-tánh sanh ra, gọi là tánh-đức, pháp hỷ sung mãn. Gặp được chúng sanh có duyên, hoặc là đồng tham đạo hữu, hoặc là học sinh của quý vị, họ có thể nghe hiểu được lời của quý vị, họ học tập quý vị, thì không phải vui lắm sao. Cũng có khi không có pháp duyên như vậy, không ít trường hợp, sau khi công phu chính mình thành tựu rồi thì làm sao? Hãy sớm vãng sanh Tịnh-độ. Thế giới này không có duyên, nhưng Thế Giới Cực Lạc có duyên, ngoài Thế Giới Cực Lạc ra thì duyên càng nhiều, duyên càng sâu, tại sao vậy? Bởi sanh đến Thế Giới Cực Lạc là sanh đến tất cả cõi nước chư Phật. Vì sao? Vì quý vị không có chướng ngại, quý vị có trí huệ, quý vị có đạo hạnh, quý vị có thần thông, quý vị có phân thân, quý vị có thể biến hóa, phân thân vô lượng vô biên, giống như A Di Đà Phật. Đó không phải là do quý vị tu thành, mà điều này do từ đâu đến? Là do 48 nguyện của A Di Đà Phật gia trì cho quý vị, nên thần thông của quý vị gần giống với Phật, có thể phân vô lượng vô biên thân. Đến mười phương thế giới để bái Phật, đi cúng Phật, cúng Phật là tu phước, nghe Phật giảng kinh thuyết pháp là tu huệ, phước huệ song tu. Đến Thế Giới Cực Lạc phước huệ song tu không chỉ ở một nơi, không chỉ ở trước mặt một vị Phật, mà ở vô lượng vô biên thế giới, ở trước mặt vô lượng vô biên chư Phật. Tu chứng, tín giải hành chứng của quý vị trong một ngày, thì chúng ta ở thế giới này tu vô lượng kiếp cũng không bằng, không bằng một ngày của quý vị ở thế giới đó. Tôi nói câu này, chính là ba câu phía trước trong Luận Ngữ.

Khi không có duyên thì vãng sanh Tịnh-độ, chúng ta vãng sanh Tịnh-độ chính là kết duyên với người ở khu vực này rồi, tại sao vậy? Vì người ta thấy quý vị vãng sanh. Quý vị biểu diễn vãng sanh làm tấm gương cho mọi người xem: không có bị bệnh, tự tại vãng sanh, nói đi là đi, người nhìn thấy thì có duyên với quý vị, là hiện thân thuyết pháp. Là thật, không phải giả, làm ra cho quý vị thấy. Đại khái cách chúng ta khoảng 40 năm trước, Hồng Kông có một lão Cư sĩ, là phu nhân của Hà Đông, mẹ của tướng quân Hà Thế Lễ. Cả nhà tướng quân Hà Thế Lễ là tín đồ kiền thành của Cơ Đốc giáo, nhưng mẹ ông niệm Phật, vợ chồng họ rất hiếu thuận, trong nhà bố trí một Phật đường, chuyên dùng cho mẹ niệm Phật. Bà mẹ thông minh, vô cùng sáng suốt, nhà chúng ta tự do tôn giáo, tin đạo nào cũng tốt, không can thiệp lẫn nhau, tốt quá! Lão thái thái vãng sanh, báo cho con trai bà biết, mời phóng viên đến đưa tin, thu thập tin tức ta vãng sanh. Bà không có bệnh, khi thời gian đến, nói đi thì đi, nên cả nhà học Phật rồi. Quý vị thấy: thật cao minh! Một chiêu cuối cùng làm cho toàn gia đình từ tín đồ Cơ Đốc đều biến thành tín đồ Phật giáo. Bà cũng không có khuyên họ, các con nên học Phật, mà nói với họ tôn giáo nào cũng tốt, nhưng khi họ thấy Phật giáo là thật rồi, thì tất cả đều học Phật. Hiện nay, đạo tràng Đông Liên Giác Uyển là chỗ ở cũ của bà ấy, là căn nhà trước đây mà bà ấy sống, đã tặng cho Phật giáo làm đạo tràng. Phải thật có khả năng như vậy, lúc đi làm ra cho quý vị thấy, thấy Phật pháp là thật chứ không phải giả. Cho nên báo chí lúc bấy giờ, lúc đó chưa có tivi, chỉ có đài phát thanh, trên báo đều đăng tin, đó là chiêu của lão thái thái.

Vì vậy, chúng ta phải làm ra tấm gương tốt cho người khác thấy, trước mắt thấy được gì? Thấy hoan hỷ, thấy cả đời quý vị chưa từng nổi nóng, chưa từng đố kỵ ai, chưa từng phê bình ai, là quá tuyệt vời, đó là Bồ-tát, là A-la-hán, chứ người phàm làm không được. Cuối cùng lúc lâm chung làm tấm gương tốt cho mọi người. Gương mẫu tốt như tiêu chuẩn của lão Hòa thượng Hải Hiền, ngài trụ thế 112 năm, niệm Phật 92 năm, không biết chữ, không có đi học, chưa nghe một ngày kinh, chưa niệm qua một bộ kinh. Tôi nghe nói: ngài khuyên rất nhiều người nên nghe Pháp sư Tịnh Không giảng kinh, thật là kỳ lạ! 112 tuổi biểu pháp viên mãn rồi, nên A Di Đà Phật đã đón ngài đến Thế Giới Cực Lạc. Tâm lượng của ngài, thật sự là chu biến pháp giới, bằng với hư không.

Bồ-đề tâm chân-tâm, chân-tâm không sanh không diệt, cho nên “Tâm ấy lâu xa”,  tức vô lượng thọ, “đến cùng tận đời vị lai” là vô lượng thọ. “Tâm ấy trọn khắp, lìa Nhị-thừa chướng”, Nhị-thừa thì sao? Là không độ được người khó độ. Còn Bồ-tát Đại-thừa thật phát Bồ-đề tâm, người khó độ cũng có phương tiện thiện xảo để độ họ. Tâm hạnh thiện xảo thế nào? Bồ-tát quyết định làm cho tất cả chúng sanh sanh tâm hoan hỷ, thì quý vị mới độ hóa chúng sanh được. Vì vậy, quý ngài có định lực, quý ngài có trí huệ, có thần thông, quý biết biểu diễn được rất chu đáo, làm cho người chưa tin thì sinh niềm tin, người có niềm tin đầy đủ thì phát đại nguyện vãng sanh, người phát nguyện thì chắc chắn được sanh, đó là ly Nhị-thừa chướng. Nhị-thừa là Thanh-văn, Duyên-giác, thông thường gộp chung lại gọi là Tiểu-thừa, khác biệt với Bồ-tát ở chỗ: một bên phát đại tâm, một bên chưa phát đại tâm. Phát tâm vãng sanh Thế Giới Cực Lạc là Bồ-đề tâm, tại sao vậy? Bởi đến Thế Giới Cực Lạc thì chắc chắn thành Phật.

“Nếu phát được tâm ấy thì khuynh đảo được sanh tử vô thỉ và trầm luân”. Bốn chữ ‘sanh tử trầm luân’ này là nói sáu đường luân hồi, sáu đường luân hồi là biển lớn sanh tử, luân chuyển trong đó không ra được. Trong kinh giáo, Phật nói với chúng ta: một khi chìm trong ba đường, thì thời gian bao lâu? Là 5000 kiếp. Chúng ta tin tưởng Phật không có vọng ngữ, lời của Phật vô cùng chân thật, Phật cũng không hù dọa người, hù dọa người cũng tính như vọng ngữ, vậy có ý nghĩa gì. Mỗi câu mỗi lời của Phật đều là lời chân thật, quý vị nghe được, tiếp nhận được, thì tốt; không tiếp nhận được, cũng tốt. Câu nói này, tóm lại mà nói: trong A-lại-da thức của quý vị biến thành hạt giống, hạt giống ấy vĩnh viễn không mất, để qua vô lượng vô biên kiếp sau, quý vị gặp được Phật pháp, thì hạt giống ấy giúp quý vị tin được nguyện được, vì đã gieo xuống hạt giống cho quý vị rồi. Thế nhưng hạt giống này muốn chín muồi phải trải qua vô lượng kiếp, không phải 5000 kiếp, 5000 kiếp là khoảng cách rất ngắn. Thật vậy, dần dần có một chút khái niệm, thì quý vị sẽ biết, điều gọi là “thân người khó được, Phật pháp khó được nghe”, quý vị mới có một chút khái niệm. Có khái niệm này, thì quý vị sẽ hạ quyết tâm vươn lên, quý vị sẽ đột phá cửa ải khó khăn, quý vị sẽ dõng mãnh tinh tấn, quyết một đời thành tựu, dù cho đời sau kiếp sau thành tựu, cũng là tốt lắm rồi. 所有功德迴向菩提,皆能遠詣佛果,無有失滅“Sở hữu công đức hồi hướng Bồ-đề, giai năng viễn nghệ Phật quả, vô hữu thất diệt”(Ðem tất cả công đức hồi hướng Bồ-đề thì đều đạt được Phật quả, chẳng bị diệt mất). Đây gọi là một khi nghe qua tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo, trong A-lại-da thức kết thành hạt giống Phật pháp, sau nhiều đời nhiều kiếp cũng sẽ khởi tác dụng.

Đoạn tiếp sau đây, lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ giải thích cho chúng ta. 茲粗釋云:首引《大經》,以明功用。《大經》者,《無量壽經》,淨影、道綽、善導諸家稱之為大經,天臺稱之為大本“Từ tthích vân: Thủ dẫn Đại Kinh, dĩ minh công dụng. Đại Kinh giả, Vô Lượng Thọ Kinh, Tịnh Ảnh, Đạo Xước, Thiện Đạo chư gia xưng chi vi Đại Kinh, Thiên Thai xưng chi vi Đại Bản”(Ở đây tạm giải thích như sau: Trước hết dẫn Ðại Kinh để làm rõ công dụng của Bồ-đề tâm. Ðại Kinh chính là Kinh Vô Lượng Thọ. Các vị Tịnh Ảnh, Ðạo Xước, Thiện Ðạo gọi Kinh Vô Lượng Thọ là Ðại Kinh; còn ngài Thiên Thai gọi là Ðại Bản). Đại Bản, Đại Kinh đều là chỉ cho Kinh Vô Lượng Thọ. 此菩提心實為往生淨土之源。源者,本也“Thử Bđề tâm thật vi vãng sanh Tịnhđộ chi nguyên. Nguyên giả, bổn dã”(Bồ-đề tâm ấy chính là nguồn, là cội gốc của vãng sanh Tịnh-độ), là nguồn, là gốc rễ. Sông Trường Giang, sông Hoàng Hà chảy mấy ngàn dặm ra biển, nhưng đầu nguồn ở đâu? Nên cội nguồn rất quan trọng. Thành Phật làm Tổ, phổ độ chúng sanh, cội nguồn ở Bồ-đề tâm. 故知,若不發此心,縱然勤修,亦似無源之水、無本之木,終不能往生也“Cố tri, nhược bất phát thử tâm, túng nhiên cần tu, diệc tựa vô nguyên chi thủy, vô bổn chi mộc, chung bất năng vãng sanh dã”(Nên biết, nếu chẳng phát tâm như vậy, thì dẫu siêng tu, nhưng cũng như nước chẳng có nguồn, cây không có gốc, cuối cùng chẳng được vãng sanh), nói rất hay! Quý vị chưa phát tâm ấy, quý vị rất cần mẫn, rất nỗ lực, tu hành mấy mươi năm, như thế nào? Như nước không có đầu nguồn, tóm lại là dòng nước nhỏ, suối nhỏ, không thể thành sông lớn đại hà được, tại sao vậy? Vì không có nguồn. Cây không có gốc, gốc là rễ, cây không có rễ thì không lớn được. Cây đó sao mà sống, lớn lên được chứ? Bởi không có gốc. Dùng điều này để ẩn dụ, cho chúng ta dễ hiểu. Cho nên, không có Bồ-đề tâm, thì có niệm Phật được rất tốt, cũng không vãng sanh được. Người niệm Phật nhiều, nhưng người vãng sanh ít, từ chỗ này thì chúng ta hoàn toàn hiểu rõ tại sao rồi.

Thậm chí khi lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam còn sống, năm nay là tròn 30 năm từ khi ngài vãng sanh, những học sinh chúng tôi làm lễ kỷ niệm ngài, thời gian qua thật là nhanh. Khi còn sống thầy thường nói, ngài nói với liên hữu chúng ta, ở Phật giáo Liên Xã Đài Trung chúng tôi, lúc tôi rời khỏi thầy, liên hữu Liên Xã Đài Trung có xấp xỉ gần 500 ngàn người, là một đoàn thể rất lớn, liên hữu khắp tỉnh Đài Loan, từ nam đến bắc. Thầy thường thường cảnh giác chúng tôi: liên hữu chúng ta, trong 10 ngàn người thật sự vãng sanh được chỉ có ba đến năm người mà thôi, nói cách khác, tuyệt đại đa số không vãng sanh được. Bởi nguyên nhân gì? Từ trong đây vừa xem liền hiểu rồi, vì không phát Bồ-đề tâm, tâm lượng rất nhỏ, không thể bao dung. Còn chia bè chia phái, lúc bấy giờ đã có rồi, những người nào chí đồng đạo hợp với họ, thì thường thường cùng vào một nhóm. Đó đều là không có bồ-đề tâm, đó đều là tu phước, cầu phước báo nhân thiên thôi. Có thể đạt được hay không? Được,  nhưng không ra khỏi luân hồi. Vì không ra khỏi luân hồi, nên chúng ta vẫn tạo nghiệp, thì nghĩ đến chắc chắn là ác nghiệp nhiều, thiện nghiệp ít, ác nghiệp nặng, thiện nghiệp mỏng; hay nói cách khác, con đường tương lai của chúng ta, là thời gian trong ba đường ác dài, thời gian ba đường thiện ngắn, không thể không biết điều này, không biết thì uổng công học rồi.

云何以下,申明其義。蓋菩提者,覺也。無上覺即佛也。是故菩提即無上佛道之名。發心作佛即發起是心作佛、是心是佛之心“Vân hà dĩ hạ, thân minh kỳ nghĩa. Hạp Bđề giả, giác dã. Vôthượnggiác tức Phật dã. Thị cố Bồ-đề tức vô-thượng Phật đạo chi danh. Phát tâm tác Phật tức phát khởi thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật chi tâm”(Từ chữ ‘vì sao’ trở đi là trình bày rõ ý nghĩa. Bồ-đề nghĩa là Giác. Vô-Thượng-Giác chính là Phật. Vì vậy, Bồ-đề chính là tên của Phật Ðạo Vô Thượng. Phát tâm làm Phật tức là phát khởi tâm: tâm này làm Phật, tâm này là Phật), Điều này quá quan trọng! Hai câu này: “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, là kinh văn của Kinh Quán Vô Lượng Thọ, đó là lý luận y cứ của Tịnh-độ-tông. Tại sao niệm Phật có thể thành Phật? Do Phật nói, Phật nói chúng ta vốn là Phật, nhưng hiện đang mê thôi, chỉ cần quay đầu. Mê với Bồ-đề là tương phản với nhau, Bồ-đề là giác, giác mà không mê là Phật, mê mà không giác là phàm phu. Rất không may chúng ta đọa lạc làm phàm phu, tạo sáu đường luân hồi, đã tạo từ vô lượng kiếp đến ngày nay, rất may mắn gặp được Phật pháp. Gặp được Phật pháp nhưng nếu không thể hiểu rõ triệt để, thì chúng ta vẫn còn hoài nghi, khiến đời này không thể thành tựu. Thật làm rõ ràng, làm tường tận rồi, thì không có nghi ngờ nữa, buông xuống vạn duyên, nhất tâm xưng niệm, quyết định được sanh, thế là đời này thành công rồi. Duyên khó được! Vô lượng kiếp đến khi nào mới gặp một lần? Khó hơn nhiều so với trúng số độc đắc, chúng ta nên biết vậy. Phát tâm làm Phật, chính là phát khởi tâm: tâm này làm Phật, tâm này là Phật, tâm như vậy, tâm làm như tâm ấy, tâm này khởi như vậy.

能發如是心者,本來是佛。此作佛之心,即本來是佛之心“Năng phát như thị tâm giả, bản lai thị Phật. Thử tác Phật chi tâm, tức bản lai thị Phật chi tâm”(Phát khởi được tâm như thế, thì vốn đã là Phật. Tâm làm Phật này, chính là tâm vốn sẵn là Phật). Cho nên, tiếp theo nói với chúng ta: tâm này rộng lớn, tâm này cứu cánh, tâm này lâu xa, tâm này trọn khắp. Niệm lão chú giải rất hay, đơn giản mà tinh yếu. “Rộng lớn”, là theo chiều dọc, nói theo thời gian, 豎窮三際“thụ cùng tam tế”(dọc khắp ba đời), ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai, không có thiếu mất, bao gồm hết cả; 橫遍十虛“hoành biến thập hư”(ngang khắp thập hư), hư là hư không, thập phương gồm: đông, tây nam, bắc, bốn góc, trên, dưới, đó gọi là thập phương. Dọc khắp ba đời, ngang khắp mười phương, đó là thế nào? Đó là tâm của chúng ta. Chân-tâm như vậy, vọng-tâm cũng như vậy. Vọng-tâm và chân-tâm là một không phải hai, tại sao nói vọng? Từ bên giác này nói là chân, từ bên mê kia nói là vọng, trên thực tế là mê ngộ không đồng, lớn nhỏ không có hai dạng, mê ngộ không giống nhau. Mê rồi thì chính là tâm luân hồi, tạo sáu đường luân hồi, do mê rồi; giác ngộ rồi, đó là tâm pháp-giới, biến pháp giới hư không giới, là chân-tâm, là bản-tánh.

Cho nên, tâm này có thể “dọc khắp ba đời, ngang khắp mười phương”, có thể 究極真際,窮盡法源“cứu cực chân tế, cùng tận pháp nguyên”(cứu cực chân-tế, cùng tột nguồn pháp). Hai câu nói này rất quan trọng. Chân-tế là gì? Tế là biên giới, chân là chân-như, chân là chân-tâm, chân là chân-tướng, một chân thì tất cả chân. Cứu cực chân tế, là chân tướng sự thật của vũ trụ, hoặc nói là chân tướng của vũ trụ vạn pháp, thì quý vị hiểu rõ rồi. Cùng tột nguồn pháp, pháp này là thế gian pháp, và Phật pháp. Quý vị hiểu toàn bộ rồi, thì quý vị thành Phật rồi. Tại sao? Vì trí huệ, đức năng, tướng hảo đều là tự-tánh của quý vị vốn có, không phải đến từ bên ngoài, bên ngoài không có, đạo lý này phải biết. Cho nên chỉ cần quý vị chịu thật làm, chịu thật thà, nghe lời, thật làm, còn thầy giáo có phải Phật Bồ-tát hay không không quan trọng. Bồ-tát còn phải học với La-sát mà. Thậm chí dù họ không phải là người học Phật, họ hiểu Phật pháp, họ đọc qua kinh, họ nghe qua diễn giảng, họ nhớ được mấy câu, họ nói được, họ không hành được; quý vị nói được hành được thì thành công rồi, thì đúng rồi. Thầy nói được không làm được, nhưng học sinh nói được làm được, thì học sinh thành tựu rồi, còn thầy vẫn tiếp tục tạo lục đạo luân hồi, học sinh sẽ quay lại để độ thầy, tại sao vậy? Là báo ân. Vì học sinh thành tựu được chính là do thầy dạy, không có vị thầy đó thì quý vị sao thành tựu được? Nên phải báo ân thầy, tôn trọng thầy.

Nếu quý vị khinh thường thầy, phê bình thầy, nói thầy giáo không đúng, thì chính quý vị không đúng rồi. Tại sao vậy? Bởi quý vị đọa lạc rồi, vì quý vị dùng vọng-tâm, quý vị lại mê rồi. Quý vị thấy, trong nháy mắt liền mê rồi. Ngộ rồi thì thế nào? Ngộ rồi giống như đức Phật, đối với kẻ bần cùng đến ăn xin, thật sự vô tri, chưa được giáo dục qua, người ngày nay nói họ không có văn hóa, hạng ăn xin, Phật đối với họ như thế nào? Phật tôn kính họ. Tâm của Phật tôn kính họ, ngang với tâm tôn kính mười phương chư Phật, là chân-tâm, bên trong không có cảm tình, không có ô nhiễm, không có phân biệt, không có chấp trước, vì Phật dùng chân-tâm. Dùng chân tâm, thì vạn sự vạn pháp không có một thứ gì mà không phải là Phật, động vật đều là Phật, thực vật cũng là Phật, khoáng vật cũng là Phật. Lễ bái núi sông đất đai, vì chúng là do tánh-đức lưu lộ ra. Nên cách nhìn của người giác ngộ và chúng ta không giống nhau, chúng ta mê hoặc, có phân biệt, có nhiễm tịnh, có chấp trước; còn người giác ngộ thì không có. A-la-hán đều không còn chấp trước nữa, quý vị phải biết: với A-la-hán, không thể xem thường họ, họ giỏi lắm rồi, phàm phu sáu đường không thể bằng họ, họ đoạn năm loại kiến-hoặc rồi, cũng đoạn năm loại tư-hoặc rồi. Còn chúng ta thì thế nào? Một phẩm cũng chưa đoạn, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến đều chưa đoạn, nếu đoạn rồi thì quý vị liền chứng Tu-đà-hoàn.

Phật cao hơn Nho, nhà Nho giảng: bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành; Phật Pháp nói bốn chữ nhưng cùng ý nghĩa với mười chữ mà họ nói, Phật pháp nói: tín, giải, hành, chứng. Chứng của nhà Nho, bao gồm hành ở bên trong, không có tách riêng ra; Còn Phật thì nói được rõ ràng hơn: quý vị tuy tu hành, chưa có chứng quả, thì quý vị là ở hành, làm không đủ viên mãn, chưa làm đến chỗ rốt ráo. Nghĩa của bốn chữ này tường tận, rõ ràng hơn năm điều mười chữ mà nhà Nho nói.

 Chúng ta có tín hay không? Không thể nói là không có tín; có giải hay không? Có giải, không thể nói là không có giải. Nhưng tín và giải đều không có gốc, đều không kiên cố, rất dễ bị dao động bởi cảnh giới bên ngoài. Vì vậy, hành không có gốc không có rễ, nên không có tin tức gì của chứng. Pháp môn niệm Phật phải niệm đến công phu thành phiến, như vậy tín đó mới là chân tín, tại sao vậy? Vì họ chắc chắn vãng sanh. Trong tâm họ chỉ có một câu A Di Đà Phật, ngoài A Di Đà Phật ra không có điều gì nữa, thật buông xuống hết vạn duyên rồi, là không giống nhau. Nếu chúng ta không làm rõ những điều này, thì công phu từ đâu ra được? Thậm chí thế nào gọi là công phu cũng không biết, công phu đắc lực hay không đắc lực thì chẳng cần phải nói nữa. Thực tế bất đắc dĩ, chính mình biết rõ rồi, thì chỉ một phương hướng, một mục tiêu, học Đại đức xưa, chuyên cầu Tịnh-độ, hy vọng vãng sanh. Vãng sanh đến Thế Giới Cực Lạc có thể nói chính là chứng đắc đại cứu cánh viên mãn, liền chứng được rồi.

Hai chữ “lâu xa” ở trong đây, 明寂真常,永離生滅“minh tịch chân thường, vĩnh ly sanh diệt”(minh tịch chân thường, vĩnh viễn xa rời sanh diệt). Mấy chữ này là tánh-đức, trong tự-tánh vốn có. Minh là quang minh, là đại-quang-minh-tạng, là thường-tịch-quang. Quý vị thấy: tịch cũng gồm ở trong đó, thường cũng gồm ở trong đó. Thường là không sanh không diệt, gọi là thường, chân; nó không phải là hư ngụy, nó là chân thật. Mười pháp giới y chánh trang nghiêm là hư ngụy, không phải là chân thật. Còn chân thật, thì Phật nói với chúng ta rồi, chỉ nói thật-báo-trang-nghiêm-độ là chân thật, có một cõi thật, là thật-báo, đó là chân thật. Tại sao vậy? Vì nó là do tự-tánh biến hiện ra, nó không thông qua sự biến của A-lại-da, nó chỉ có hiện, do tâm hiện, không có thức biến, cho nên nó là chân thật. Người ở nơi đó là vô lượng thọ, không có hiện tượng sanh diệt. Về phương-tiện-hữu-dư-độ thì phải trừ Thế Giới Cực Lạc ra, tại sao vậy? Vì bốn độ của Thế Giới Cực Lạc đều là tâm hiện, không có thêm thức biến, điều này không thể nghĩ bàn, quá đặc biệt rồi! Tại sao chúng ta đến Thế Giới Cực Lạc? Bởi vì điều này. Đó là gì? Chính là nói: tất cả thế giới chư Phật mười phương có thoái chuyển, còn bốn độ của Thế Giới Cực Lạc đều không thoái chuyển, chính là việc tốt này, vì vô lượng thọ.

Nên nhớ, quý vị có vô lượng thần thông, quý vị có thể phân vô lượng thân, mỗi ngày đến mười phương thế giới chư Phật Như Lai, để cúng Phật nghe pháp, phước huệ song tu. Vì thế, quý vị thành tựu đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc, thì quý vị tự nhiên biết, thời gian không cần rất dài. Tại sao vậy? Vì lão sư, thầy là hạng nhất, là chư Phật Như Lai, chứ không phải Bồ-tát, quá nhiều quá nhiều rồi, tất cả đều là thầy. Quý ngài giảng kinh dạy học, mỗi vị Phật giảng kinh thì quý vị đều đến nghe, nghe từ đầu đến cuối, không sót buổi học nào. Được hay không? Được. Tại sao vậy? Vì quý vị phân thân để đi, hóa thân để đi mà. Như thân của chúng ta hiện nay, không thể phân thân, không thể hóa thân, một chút biện pháp cũng không có, không thể đi làm hai việc cùng lúc. Quý ngài thì có thể, cùng lúc có thể làm vô lượng vô biên việc.

Nên tâm này là: minh, tịch, chân, thường, không sanh không diệt, vĩnh viễn xa rời sanh diệt, không sanh không diệt. Khi hiện tướng, không thể nói có, khi không hiện không thể nói không, “có” “không” là đối lập rồi. Ở Thế Giới Cực Lạc, đều hóa giải hết tất cả đối lập, không có đối lập. Chúng ta muốn học Phật, phải thật làm, chúng ta chưa đến Thế Giới Cực Lạc, vẫn ở nơi này, hãy đem đối lập tiêu trừ, thì có sự giúp đỡ lớn đối với việc vãng sanh của chúng ta. Chúng tôi học được đời này không đối lập với người, họ đối lập với tôi, tôi không đối lập với họ, điều này có thể làm được. Không đối lập thì không có cạnh tranh, đương nhiên càng không có đấu tranh, thì tâm như thế nào? Không những tâm thanh tịnh, mà bình đẳng rồi, thanh tịnh là Tiểu-thừa, bình đẳng là Bồ-tát. Đẳng là hoàn toàn giống nhau, bình vì là tất cả đều do tự-tánh lưu xuất ra, tự-tánh của ai? Tự-tánh của chính mình. Tự-tánh chỉ có một, mười phương Như Lai, A Di Đà Phật cùng một tự-tánh với chúng ta, vô lượng vô biên tất cả chúng sanh, hữu tình vô tình, cũng là cùng một tự-tánh. Vì thế nói với quý vị, chỉ có người học Phật thật sự hiểu rõ, thật sự chứng đắc rồi, thì biến pháp giới hư không giới và chính mình là một thể. Là một thể, nếu quý vị không yêu nó, thì chính là không yêu mến thân thể của chính mình; quý vị hủy hoại thứ khác, hủy hoại tất cả vạn vật, chính là hủy hoại tự-tánh của chính mình.

Vì vậy, chỉ có người minh tâm kiến tánh, chứng đắc đại cứu cánh viên mãn, thì họ đối với cảnh giới bên ngoài, trên thực tế là đối với vạn pháp mà tự-tánh của chính họ biến hiện ra, là thanh tịnh, bình đẳng, chân thành, từ bi, gọi là “đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”, là tâm như vậy, thông thường chúng ta nói là tâm địa Bồ-tát. Họ đối với người không có tự kỷ, vì người chính là chính mình, vật chính là chính mình, vạn pháp chính là chính mình. Làm sao chúng ta dung thông những giáo nghĩa này, thì thân tâm chúng ta sẽ tan đi, ngay trong cuộc sống, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác hợp làm một với nó, đó chính là sự tu hành của Pháp-thân Đại-sĩ, tu hành của Đại sư Huệ Năng, tu hành của những vị Đại đức đã minh tâm kiến tánh. Không có thị phi nhân ngã, không có thiện ác, không có tà chánh, tất cả vọng tưởng phân biệt chấp trước đều không còn nữa, thì đại viên mãn.

普備,具足一切 “Phổ bị, cụ túc nhất thiết”(Trọn khắp, đầy đủ tất cả), năng sanh vạn pháp, năng sanh biến pháp giới hư không giới, 無欠無餘“vô khiếm vô dư”(không thiếu không dư), khiếm là thiếu, không có thiếu, không có thiếu sót. Đến đâu để cầu? Vào trong tự-tánh để cầu, không hướng ra ngoài, mà hướng nội. 如是之心,功德不可思議。若能一發此心,便能傾盡無始以來生死與諸有沉淪“Như thị chi tâm, công đức bất khả tư nghị. Nhược năng nhất phát thử tâm, tiện năng khuynh tận vô thỉ dĩ lai sanh tử dữ chư hữu trầm luân”(Tâm như vậy, thì công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu phát được tâm ấy, thì khuynh đảo được tận sanh tử từ vô thỉ đến nay cũng như sự trầm luân trong các cõi). Vì tâm ấy chưa phát nên quý vị không cảm nhận được, sau khi phát rồi, thì tác dụng tiếp theo liền hiện ra. Khuynh là nói thời gian nhanh chóng, trong sát-na, hễ phát tâm, thì trong sát-na. Tận, tận là không sót một thứ gì. Tức là đoạn hết sanh tử từ vô thỉ đến nay, và các trầm luân, trầm luân tức là nói lục đạo luân hồi, vậy thì lục đạo không còn nữa, quý vị liền siêu vượt lục đạo, siêu vượt mười pháp giới. Chư hữu, hữu là nói tam hữu, chư hữu bao gồm mười pháp giới, trầm luân là nói lục đạo luân hồi, chính là mười pháp giới và lục đạo. Ý của đoạn này nói gì? Là diệt tội, tiêu nghiệp chướng, tội chướng tích tụ từ vô lượng kiếp đến nay, đều tiêu trừ hết. Sau khi tiêu trừ, 更以功德迴向菩提“canh dĩ công đức hồi hướng Bồ-đề” (lại đem công đức hồi hướng Bồ-đề). Chư vị thấy đó: nghiệp chướng tiêu trừ rồi, mới có thể đem những công đức tiêu trừ nghiệp chướng này hồi hướng Bồ-đề. 定能上證佛果“Định năng thượng chứng Phật quả”(thì nhất định chứng được Phật quả), tức nhất định có thể chứng đắc Phật quả vô thượng. 所有功德,決不唐捐,無有損失與消滅“Sở hữu công đức, quyết bất đường quyên, vô hữu tổn thất dữ tiêu diệt”(Tất cả công đức, nhất định chẳng luống uổng, cũng chẳng bị tổn thất hay diệt mất).

Ai có thể nói ra lời này? 道綽大師此語“Đạo Xước đại sư thử ngữ”(Lời này của Đại sư Đạo Xước), ngài có thể nói ra câu nói này, thì quá xứng đáng để ngày nay chúng ta điền tên của ngài lên bài vị Tổ sư. Dựa vào thứ tự thì ngài là vị Tổ thứ ba, là Tịnh-tông Tam Tổ, không phải là không có lý do. Câu nói này giúp chúng ta hóa giải bao nhiêu nghi vấn, bao nhiêu băn khoăn. Quý vị chỉ cần thật xem hiểu rồi, thì sự băn khoăn, nghi ngờ của quý vị sẽ tan hết sạch. Tiếp theo là bình luận của Hoàng Niệm lão đối với lời của Pháp sư Đạo Xước, 直截道出菩提心之功用,超出情見,微妙難思“trực tiệt đạo xuất Bồ-đề tâm chi công dụng, siêu xuất tình kiến, vi diệu nan tư”(chỉ thẳng ra công dụng của Bồ-đề tâm, vượt ra ngoài sự thấy phàm tình, vi diệu khó nghĩ lường). Về tác dụng của Bồ-đề tâm, nói không nhiều, văn tự không nhiều, nhưng nói được rất rõ ràng, rất sáng tỏ. Tạo ra một sự khích lệ rất lớn đối với những người học chúng ta, biết được điều gì? Biết dùng chân-tâm tốt, thì tại sao phải dùng vọng-tâm? Chính câu nói đó, câu nói đó là then chốt.

Thế nào gọi là chân-tâm? Thế nào là chí thành? Trong sách Đại Học nói với chúng ta: “chí thành là không lừa dối chính mình”. Ghi nhớ câu nói này, không lừa gạt chính mình. Từ vô lượng kiếp đến nay, khởi tâm động niệm đều là lừa gạt chính mình, lừa dối người khác, giả mà không thật. Từ nay trở đi, tiếp nhận lời giáo huấn của tam Tổ Đại sư Đạo Xước, chúng ta học tập dùng chân-tâm, trong đời sống dùng chân-tâm, trong học tập dùng chân-tâm, trong công việc dùng chân-tâm, đối người tiếp vật đều dùng chân-tâm. Chân-tâm biểu hiện ra ngoài, chính là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”. Căn cứ theo thứ tự nên đảo ngược lại, trước là “đồng thể đại bi”, sau là “vô duyên đại từ”. Trước hết, chúng sanh khổ nạn thì phải giúp đỡ họ hóa giải, bạt khổ, sau đó tiếp tục giúp đỡ chúng sanh được vui. Giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui, giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ. Thực hiện từ đâu? Thực hiện tất cả ở dạy học.

Cổ Thánh Tiên Hiền của Trung Hoa nói: dạy học làm đầu. Bất luận làm điều gì đều là dạy học làm đầu. Tôn giáo là đi đầu dạy học trước nhất, bất luận tôn giáo nào. Trong tôn giáo có đại Thánh đại Hiền, đều là Bồ-tát, đồng thể đại bi, đến cứu giúp chúng sanh. Quan niệm và phương pháp cứu chúng sanh, chính là “từ bi làm gốc”. Từ bi là gì? Là chân ái. Tại sao không nói ái? Người thế gian nghe nói ái, họ liền sanh ra tình, tình ái, tình ái phiền phức, là phiền não. Cho nên, Phật pháp đổi danh từ, gọi là từ bi. Từ bi là gì? Trong từ bi có trí huệ, trong ái có trí huệ, trong ái có đạo đức, vậy thì đúng rồi, không phải là cảm tình. Cảm tình đó là phiền phức, đó là gốc rễ của sáu đường luân hồi, dính vào việc này rồi, thì rất khó ra khỏi. Nói cách khác: ái của Phật pháp, đó là từ bi, là chân ái. Từ bi là chân ái, còn ái mà người thế gian nói là giả ái, là tình ái, tình là giả, tình sẽ thay đổi, hôm nay yêu, ngày mai không yêu nữa. Quý vị thấy người thế gian này, đương nhiên khi kết hôn là lúc tình nồng nhất, dính vào rất chặt; nhưng qua mấy ngày thì ly hôn rồi, hết rồi tình, không còn nữa, hoàn toàn tiêu mất rồi. Cho nên đó là giả, có sanh có diệt là giả, từ bi mới là thật, vĩnh viễn không thay đổi, ái mà vĩnh viễn không thay đổi chính là từ bi. Chúng ta phải hiểu rõ giáo huấn này của đức Phật.

Người mà đời này tôi cảm ơn nhất, là ngài Phương Đông Mỹ. Nếu ngài không chỉ ra cho tôi con đường này, thì tôi đã khổ não cả đời, sớm đã chết rồi, không còn ở đời nữa. Ngài đã cải tạo vận mạng của tôi, qua một bộ sách: Triết Học Khái Luận, một phần trong Triết Học Khái Luận là Triết Học Phật Kinh. Tôi đã nghe hiểu, hiểu rõ ràng rồi, nên hạ quyết tâm chuyên đi đường này. Đại sư Chương Gia khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, tôi thật làm. Thích Ca Mâu Ni Phật cả đời dạy học, bắt đầu từ 30 tuổi, khai ngộ rồi thì bắt đầu dạy học. Tôi từ 33 tuổi, xuất gia thì dạy ở Phật học viện. Ra ngoài giảng kinh, thì phần nhiều giảng ở các đoàn thể của Cư sĩ, ở Đài Loan có rất nhiều Liên xã, rải rác khắp các đảo, tôi thường xuyên đến nơi của họ giảng kinh. Một bộ kinh có thể giảng mười mấy lần, giảng đến nhuần nhuyễn, nhuần nhuyễn có thể sanh tài nghệ, tài nghệ là gì? Là có chỗ ngộ. Giảng nhiều lần sẽ có chỗ ngộ, lần sau bổ sung cho lần trước, lần sau cải chính cho lần trước. Không thể gián đoạn, ngày ngày phải giảng. Ngày ngày giảng mà không có người nghe thì làm sao? Thời đại đó, vừa mới phát minh máy ghi âm, có vị Cư sĩ tặng tôi một máy ghi âm, tôi rất thích. Tại sao vậy? Tôi giảng cho nó nghe, sau đó, khi tôi giảng xong, tôi lại mở ra, để tôi nghe, nó lại giảng cho tôi nghe. Công khóa giảng của tôi ngày nào cũng không thiếu, dù đi xa cũng không thiếu, vì mang máy theo mình. Đây là phương pháp học tập của tôi, chính là tự mình giảng, tự mình nghe, tự mình đính chính, tự mình nâng cao chính mình.

Cho nên, mấy câu sau cùng này của Niệm lão nói rất hay, những lời của Đại sư Đạo Xước, chỉ thẳng ra công dụng của Bồ-đề tâm, vượt ra ngoài sự thấy phàm tình, vi diệu khó nghĩ lường. Học Phật thì sợ nhất chính là phàm tình này, những tình kiến này xuất hiện thì phiền phức rồi, khó đoạn nhất là tình. Tình không phải là thứ tốt, khiến khổ nói không nên lời, thế nhưng người ta lại thích chịu sự khổ đó, thích chịu sự đày đọa đó, đây là mê hoặc đến tận cùng, mê hoặc đến như vậy. Phật pháp cần đem tình đó biến thành trí, thực tế nói tình và trí là một sự việc, giác ngộ rồi thì gọi là trí, mê rồi thì gọi là tình. Vì vậy, hai chữ tình kiến này, khiến vô lượng chúng sanh luân hồi trong sáu đường. Phật Pháp, Tịnh-tông cũng không ngoại lệ, kinh điển Tịnh-tông vượt khỏi tình kiến, vượt khỏi từ ở gốc, đó là cao minh nhất. Gốc là ở dụng tâm, dạy chúng ta dùng chân-tâm, đừng dùng vọng-tâm, vọng-tâm là tình, chân-tâm là trí. Từ đây, bắt đầu học dùng theo lý trí, không dùng tình cảm. Lý trí là thanh tịnh, là bình đẳng, là giác mà không mê, có thể khiến cho chúng ta luôn luôn ở trong đạo Bồ-đề, không đến nỗi mê mất phương hướng; cả đời tình kiến, thì phiền phức liền đến ngay, nếu không phải đi đường tà, thì cũng là đi đường vòng, vì mê rồi.

Tiếp theo, 引密宗《菩提心論》以為佐證“dẫn mật tông Bồ Đề Tâm Luận dĩ vi tá chứng”(trích dẫn từ Bồ Ðề Tâm Luận của Mật-tông để chứng minh thêm), làm chứng minh sự việc này. Trong Bồ Đề Tâm Luận nói: 此菩提心,能包藏一切諸佛功德法故。若修證出現,則為一切導師“Thử Bồ-đề tâm, năng bao tàng nhất thiết chư Phật công đức pháp cố. Nhược tu chứng xuất hiện, tắc vi nhất thiết đạo sư”(Tâm Bồ-đề này, có thể chứa đựng tất cả công đức của chư Phật. Nếu tu chứng xuất hiện, thì làm Đạo sư của tất cả). Chân-tâm, trong chân-tâm bao hàm, chứa đựng những gì? Chứa tất cả pháp công đức của chư Phật, công đức tu hành tích tụ vô lượng kiếp của tất cả chư Phật, đều ở trong chân-tâm. Vì thế, chỉ cần quý vị minh tâm kiến tánh, quý vị thấy được chân-tánh, thì quý vị đều thọ dụng được pháp công đức của tất cả chư Phật, giống như nói quý vị đều nhìn thấy được tư liệu của chư Phật, quý vị đều dùng được rồi. Đó gọi là gì? Là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Cho nên, Phật, Bồ-tát, cổ Thánh Tiên Hiền không dạy chúng ta hướng ngoại để cầu, mà hướng nội. Phật pháp gọi là nội học, người Ấn Độ gọi là nội minh. Minh là trí huệ, năm loại trí huệ, trí huệ này là từ bên trong, không hướng ra ngoài, gọi là nội minh.

Phật giáo sau khi truyền đến Trung Hoa, đối với phương pháp học tập, lý luận học tập của Phật giáo, thì lão Tổ tông, cổ Thánh Tiên Hiền của chúng ta đều tiếp nhận toàn bộ, đó chính là y theo trình tự của giới định Huệ. Giới là làm gì? Giới là giúp quý vị đắc định. Định là làm gì? Định là giúp quý vị khai trí huệ, mục đích là khai trí huệ. Tất phải thông qua thiền định, tiểu định thì tiểu trí huệ, đại định thì đại trí huệ, đại triệt đại ngộ đó là đại định rốt ráo viên mãn, tự-tánh vốn: định, có trí huệ viên mãn. Tự-tánh vốn định thì Đại sư Huệ Năng chứng được rồi, quý vị thấy câu nói thứ tư lúc ngài khai ngộ là: “Nào ngờ tự-tánh, vốn không dao động”. Tự-tánh chính là chân-tâm, chân-tâm không động, chưa từng lung lay. Vì vậy, nếu quý vị muốn trí huệ, đức năng trong tự-tánh đều thẩm thấu ra, khởi được tác dụng, thì trước hết quý vị phải trở về đến tự-tánh vốn định. Sau đó quý vị liền biết, vạn pháp từ đâu đến vậy? Do tự-tánh biến ra, nên quý vị đối với vạn pháp, quá khứ hiện tại vị lai, toàn bộ đều thông đạt hết. Nhất thiết trí, không có thiếu sót một thứ gì, điều này thì người bình thường không thể tin tưởng. Quý vị thấy những người là nhà khoa học, nhà triết học, họ đều nói trí tuệ loài người là có hạn, không thể nào biết tất cả, mọi thứ đều biết, không thể nào được như vậy. Nói vậy là không đúng rồi, chúng ta là hằng thuận chúng sanh, không nên tranh luận với họ, nếu họ có thể nghe, thì chúng ta bèn nói cho họ nghe một ít, không thể nghe, thì dừng lại, hoan hoan hỷ hỷ, nét mặt tươi cười.

Về trì giới, không những ngày nay có, mà có rất nhiều, thời xưa cũng có hạng người: chính mình giới học được rất khá, trì được rất tốt, lấy cây thước của mình để thường thường đi đo người khác: “Bạn xem, người này phá giới rồi, người kia không trì giới đó!”. Tội nghiệp này rất nặng. Vào đời Đường, Tổ thứ hai tông Pháp Tướng là Đại sư Khuy Cơ, tông Pháp Tướng là thành lập ở Trung Hoa, sơ Tổ là Đại sư Huyền Trang, Ấn Độ không có tông phái này, ngài Khuy Cơ là nhị Tổ. Ngài Khuy Cơ xuất gia là do Đại sư Huyền Trang khuyên ngài, về thân phận của ngài, nếu nói theo cách ngày nay là con cháu cán bộ cấp cao, bác của ngài là Uất Trì Kính Đức, là đại tướng, nguyên soái của Đường Thái Tông. Ngài Khuy Cơ là cháu trai của Uất Trì Kính Đức, ngài vô cùng thông minh. Đại sư Huyền Trang hy vọng ngài xuất gia, ngài nói đùa, nói với Đại sư Huyền Trang: ông đáp ứng ba điều kiện của tôi thì tôi xuất gia liền. Đại sư Huyền Trang hỏi ngài: ba điều kiện gì? Điều đầu tiên, tôi thích đọc sách, tôi muốn mang theo một xe sách, vì tôi thích đọc sách mà. Đại sư Huyền Trang nói, được. Điều thứ hai? Điều thứ hai là, vì cuộc sống ngài rất sung túc, nên:“Tôi muốn mang theo một xe vàng, vì tôi đã quen cuộc sống vinh hoa phú quý rồi”. Thứ ba, tôi muốn mang theo một xe gái đẹp. Dường như Đại sư Huyền Trang đều đáp ứng hết ba điều kiện cho ngài, ngài xuất gia rồi. Đó là Bồ Tát tái lai, cho nên vị Pháp sư ba xe ấy liền nổi tiếng, mọi người gọi là Pháp sư Tam Xa: một xe vàng, một xe sách, một xe gái đẹp. Cho nên, Luật sư Đạo Tuyên ở trên núi Chung Nam khinh mạn đối với ngài, tuy ngài giảng kinh giảng rất hay, thật có đạo lý, nhưng giới luật không thanh tịnh, không giữ giới, mà giới là gốc của Vô Thượng Bồ-đề, cho rằng ngài không giữ giới. Đại sư Huyền Trang có thể đồng ý cho ngài, thì nói rõ đạo hạnh của Đại sư Huyền Trang cao hơn ngài, còn Luật sư Đạo Tuyên thì không bằng.

Có một ngày, Đại sư Khuy Cơ đi ngang qua núi Chung Nam, chính là đạo tràng Luật-tông của Luật sư Đạo Tuyên, đi ngang qua dưới núi của ngài, nghe nói đạo tràng của ngài, nên thuận tiện lên trên núi thăm viếng. Luật sư Đạo Tuyên nghe nói ngài đến thăm viếng, thì phải khoe khoang một chút. Luật sư Đạo Tuyên cảm được người trời cúng trai, ngài chỉ ăn một bữa giữa ngày, bữa cơm trai này là của người trời đưa đến cho ngài. Ngài muốn cho Đại sư Khuy Cơ xem thấy: ông xem người trời đem cúng dường cho tôi. Lên núi nói chuyện rất lâu, đã qua giờ dùng cơm, nhưng người trời không đến, Luật sư Đạo Tuyên rất thất vọng. Sau khi ngài Khuy Cơ đi rồi, ngày hôm sau, người trời đến đưa cúng nữa, thì ngài quở trách vị ấy: tại sao giữa ngọ hôm qua, ông không đưa cơm đến đây? Vị ấy nói: hôm qua có Bồ-tát Đại-thừa ở đây, thiên thần khắp núi, không cho tôi đi vào. Luật sư Đạo Tuyên nghe câu nói này toát cả mồ hôi, cảm thấy hổ thẹn. Nói cách khác, ngày nay học giới là giới ở bên ngoài, cách trì giới của Đại sư Khuy Cơ là trì ở trong tâm. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, chính là đại giới viên mãn. Đại sư Khuy Cơ làm được điều này, Đại sư Huyền Trang, quý ngài làm được, còn Luật sư Đạo Tuyên chưa đến cảnh giới này.

Nên ghi nhớ câu chuyện này, vì rất đáng để chúng ta cảnh giác, nếu chúng ta lấy trì giới để đo lường người khác, người này không trì giới, người kia không trì giới, lỡ như họ là Phật Bồ-tát, là La-hán tái lai, thì không phải quý vị là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng sao? Tội nghiệp hủy báng Tam Bảo này là vào địa ngục Vô Gián. Thời xưa đã có, ngày nay có thể có nhiều hơn, nên chúng ta không thể không biết điều này.

Ở đây nói chân-tâm, trong chân-tâm bao gồm tất cả Phật pháp, Pháp của tất cả chư Phật đều ở trong Bồ-đề tâm, đó là pháp công đức. “Nếu tu chứng xuất hiện”, tu chứng xuất hiện chính là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, “thì làm Đạo sư của tất cả”. Chúng ta nêu ví dụ về Đại sư Huệ Năng, Đại sư Huệ Năng tu chứng xuất hiện rồi, làm sao biết ngài xuất hiện? Vì báo cáo của ngài, giống như ngày nay, báo cáo của luận văn Tiến sĩ, chỉ có năm câu: “Nào ngờ tự-tánh, vốn tự thanh tịnh; nào ngờ tự-tánh, vốn không sanh diệt; nào ngờ tự-tánh, vốn tự đầy đủ; nào ngờ tự-tánh, vốn không dao động; nào ngờ tự-tánh, năng sanh vạn pháp”, đó chính là báo cáo của ngài. Ngũ Tổ triệu kiến là để kiểm tra ngài, sau khi ngũ Tổ nghe xong, thì tiếp theo không cần nói nữa, được rồi! con thật sự khai ngộ rồi! trao y bát cho con! Bảo ngài nhanh chóng rời khỏi. Đó là học vị tiến sĩ cuối cùng, ngài lấy được rồi, ngài cầm y bát ra đi. Thế nhưng không ai phục, người ta cho rằng ngài trộm đi, phải nhanh đoạt y bát trở về. Ngài ẩn náu trong nhóm thợ săn 15 năm, sau 15 năm, đại khái không ít người không còn sống nữa, người còn sống thì cũng quên rồi, không gây ra rắc rối nữa, nên ngài ra hoằng pháp lợi sanh, làm Đạo sư của tất cả chúng sanh.

若歸本,則是密嚴國土“Nhược quy bản, tắc thị mật nghiêm quốc độ”(Nếu trở về gốc thì chính là cõi nước Mật Nghiêm), cõi nước Mật Nghiêm chính là Thế Giới Cực Lạc, Mật Nghiêm là cách nói của Mật-tông, cho nên đến sau cùng Mật-tông vẫn là quy về Thế Giới Cực Lạc. 不起於座,能成一切佛事。菩提心之功用,焉可思議“Bất khởi ư tòa, năng thành nhất thiết Phật sự. Bồ-đề tâm chi công dụng, yên khả tư nghị”(Không rời khỏi tòa ngồi mà có thể thành tựu hết thảy Phật sự. Công dụng của Bồ-đề tâm thật không thể nghĩ bàn), câu này nói với chúng ta: tác dụng của Bồ-đề tâm thật sự bất khả tư nghị.

Đây là đoạn thứ nhất trong bốn đoạn khai thị, nói rõ công dụng của Bồ-đề tâm. Đoạn thứ hai nói rõ: ‘danh’, ‘thể’ của Bồ-đề tâm. Danh tự, danh tự là tướng, có ‘danh’ có tướng nhất định có ‘thể’, nói ‘thể’ của Bồ-đề tâm cho chúng ta. Bốn đoạn này ở đây, chính là nói rõ thế nào là Bồ-đề tâm, ý nghĩa của Bồ-đề tâm là gì, tại sao phải phát Bồ-đề tâm, không phát có được hay không. Đoạn văn này thảo luận vấn đề lớn ấy. Bởi vì, có Bồ-đề tâm mới có thể vãng sanh, không có Bồ-đề tâm thì không thể vãng sanh, niệm Phật cũng không thể vãng sanh. Vãng sanh được hay không quyết định ở có Bồ-đề tâm hay không, còn công phu niệm Phật sâu cạn, đó là địa vị sau khi vãng sanh, là địa vị bốn độ ba bậc chín phẩm không giống nhau. Vậy việc quan trọng nhất của chúng ta ngày nay, chính là chúng ta đến được Thế Giới Cực Lạc, đừng quan tâm phẩm vị, học ngài Liên Trì, học Đại sư Ngẫu Ích, tôi chỉ mong đến Thế Giới Cực Lạc, dù vãng sanh Đồng-cư-độ hạ-hạ-phẩm tôi cũng hài lòng. Giống như nói chúng ta đến bên đó học năm thứ nhất của Tiểu học, thì tôi cũng chịu, tại sao vậy? Bởi người bên đó vô lượng thọ, bảo đảm lấy được học vị Tiến sĩ, thời gian dài cũng không sao, thọ mạng dài mà. Nếu thọ mạng ngắn, vậy thì không được rồi, như ở thế gian chúng ta đây là không được, Thế Giới Cực Lạc được. Vì thế, trước hết nắm được Thế Giới Cực Lạc. Chân tín, thiết nguyện chính là Bồ-đề tâm, nói cách khác, Bồ-đề tâm giúp chúng ta thật sự tin tưởng Tịnh-độ, giúp nguyện vọng lớn nhất, chí nguyện số một của chúng ta là: tôi phải đến Thế Giới Cực Lạc để gặp A Di Đà Phật. Đây là tác dụng đầu tiên trong những tác dụng của Bồ-đề tâm. Tác dụng này thù thắng không gì bằng.

Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

( Hết tập 309)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Chóng viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.