311 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014 – Phẩm 24 – HT Tịnh Không giảng

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4)

PHẨM 24: TAM BỐI VÃNG SANH: (Ba Bậc Vãng Sanh)

Tập 311

Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng. Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Australia.

Thời gian: Ngày 24 tháng 2 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Thích Thiện Trang.

 

         Kính chào: chư vị Pháp sư, quý vị đồng học, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

         A-xà-lê tồn niệm, ngã đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn.  (3 lần)

         Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 742, chúng ta xem từ dòng đầu tiên, câu thứ ba, dòng đầu tiên, câu thứ ba, 《心燈錄》云“Tâm Đăng Lục vân”(sách Tâm Đăng Lục nói):

所以古德都要人知有。若不知有,總是虛妄“Sở dĩ cổ Đức đô yếu nhân tri hữu. Nhược bất tri hữu, tổng thị hư vọng”(Do vậy, cổ Đức đều muốn người khác biết ‘có’. Nếu chẳng biết ‘có’, thì toàn là hư vọng).

         Phần trước đã giải thích biết ‘không’ và biết ‘có’, 以明識達有無“dĩ minh thức đạt hữu vô”(đã nói rõ thức đạt ‘có’ ‘không’), câu nói này trong kinh, thì ‘thức’ là nhận thức, ‘đạt’ là thông đạt, điều gì là ‘có’, điều gì là ‘không’. Nếu như không thông đạt chân tướng sự thật này, thì không có cách nào vào cửa Phật, thì không có cách nào nâng cao chính mình được. Phàm phu chấp trước ‘có’, cho rằng mười pháp-giới, sáu đường luân hồi là thật có. Phật nói cho chúng ta biết, những điều đó không có, là giả thôi. Thế nhưng điều quan trọng nhất trong đây, là như trong Khởi Tín Luận đã nói: “Lìa tướng lời nói, lìa tướng văn tự, lìa tướng tâm duyên”, thì quý vị mới thật sự ‘thức đạt’ được. Nếu như chấp trước, nói ‘không’ với quý vị, thì quý vị chấp ‘không’, nói ‘có’ với quý vị, thì chư vị chấp ‘có’. Vậy thì phiền phức lớn rồi, thì ngay cả chư Phật Như Lai cũng không có cách nào dạy cho chúng ta, tại sao vậy? Vì dính chặt rồi. Cho nên trong Khới Tín Luận nói rất hay, nhất định phải rời khỏi, không chấp trước ngôn ngữ. Văn tự là sự tiếp nối của lời nói, cho nên tác dụng của nó là tướng thông với lời nói, không được chấp trước lời nói, cũng không được chấp trước văn tự, phải hiểu đạo lý này. Đây là Phật pháp chân chánh, Phật Pháp chân chánh, không thể nói ‘có’, không thể nói ‘không’, vậy mới có thể lãnh hội thật sự được chân tướng.

         Tướng hảo dường như là có, thật ra thì sao? Thật ra nó không tồn tại. Sự việc này đã được nhà nguyên tử lực học hiện đại phát hiện rồi. Nhà nguyên tử lực học biết rằng, toàn bộ tất cả pháp hữu vi, có sanh có diệt, nhưng tần số sanh diệt rất cao, người thông thường không biết được. Trong kinh, Phật nói với chúng ta, Phật hỏi Bồ-tát Di Lặc rằng: “tâm có bao nhiêu niệm”. Tức là trong tâm của phàm phu khởi một ý niệm, thì trong ý niệm đó có bao nhiêu niệm, bao nhiêu tướng, bao nhiêu thức. Kinh văn là: “Có bao nhiêu niệm, bao nhiêu tướng thức?” Bồ-tát Di Lặc trả lời rằng, trong một cái búng tay, tức là thời gian thực hiện búng tay, một cái búng tay đó, có 32 ức trăm ngàn niệm. Đơn vị là trăm ngàn, một trăm ngàn là mười vạn, mười vạn nhân với 32 ức, kết quả phép nhân là 320 nghìn tỷ (*). Trong một cái búng tay, có 320 nghìn tỷ lần sanh diệt. Dụng ý ở đây là gì? Dụng ý là sáu căn của chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu trần. Dưới tần số cao như vậy, tất cả hiện tượng, bất kể là vật chất, hay tinh thần (tinh thần chính là ý nghĩ), hay hiện tượng tự nhiên, đều không có hai hiện tượng nào giống nhau, không có hai ý nghĩ nào giống nhau. Do đó chân tướng hiện ra, hiện tượng vật chất không thể đắc, hiện tượng tinh thần cũng không thể đắc, hiện tượng tự nhiên cũng như vậy. Cho nên nói “Tất cả những gì có tướng, đều là hư vọng”.

         Những hiện tượng đó, thời gian nó tồn tại rất ngắn. Một hiện tượng đó, chỉ trong một niệm, mà có nhiều như vậy, nên chúng ta không biết được. Một hiện tượng đó, trên thật tế là niệm rất nhỏ, là ý nghĩ vi tế, một niệm thì sinh ra một hiện tượng. Vậy một giây đồng hồ thì sinh ra bao nhiêu hiện tượng? Với một hiện tượng, thời gian tồn tại của nó là một phần 2240 nghìn tỷ giây. Cũng chính là nói, trong một giây nó đã trải qua đến 2240 nghìn tỷ lần sanh diệt, trong một giây mà sanh diệt 2240 nghìn tỷ lần, thì chúng ta không cách nào tưởng tượng được. Nên nói là không thể nghĩ bàn. Quý vị không có cách nào nghĩ về nó, nghĩ không được. Quý vị cũng không có cách nào nói về nó, nói không ra. Gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, đó là chân tướng sự thật. Hiện tượng vật chất như vậy, hiện tượng tinh thần cũng như vậy, cho đến mọi hiện tượng tự nhiên cũng như vậy. Cho nên, trên kinh Kim Cang, Phật nói với chúng ta: tất cả pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc.

        Ngày nay chúng ta xem tivi, màn ảnh của tivi, nó có sắc tướng, cũng có thể phát âm thanh, tần số của sắc tướng đó cao bao nhiêu? Một giây là 100 lần, là tivi mà chúng ta thấy được. Trước đây, tivi trắng đen, chưa có nhiều màu, thì chỉ 50 lần. Ngày trước phim ảnh chiếu trong rạp hát, là phim hoạt hình, ở đây chúng tôi còn một cuộn phim, đây là những tấm phim điện ảnh, trong một giây thì có bao nhiêu lần? 24 lần. Đó là trong một giây, bên trong máy chiếu phim, cửa trập của máy chiếu phim mở ra, một hình ảnh đó liền chiếu lên màn bạc, lập tức liền đóng lại, đóng lại, lại mở tấm thứ hai, mở tiếp tấm thứ ba, một giây chiếu 24 tấm. Thì lừa được chúng ta rồi, chúng ta thấy được rất thật, nó tồn tại. Nhưng thật ra là 24 tấm hình trong một giây. Tivi ngày nay của chúng ta, là tivi màu, một giây là chiếu 100 tấm hình. Vậy thì dễ hiểu rồi. Hoàn cảnh trước mắt của chúng ta đây, là cảnh giới mà mắt chúng ta thấy, tai chúng ta nghe, thì một giây là 2240 ngàn tỷ lần. Quý vị phải ghi nhớ: trong một giây có 2240 ngàn tỷ lần sanh diệt. Nên chúng ta làm sao mà biết được? Vì vậy đều đem nó cho là thật. Chân tướng sự thật không thể nói là chân, cũng không thể nói vọng, tại sao vậy? Vì căn bản là không tồn tại, đều là giả thôi. Bốn câu nói trong Kinh Kim Cang này, chúng ta phải ghi nhớ kỹ: sự thật chân tướng là như vậy, tất cả pháp không sở hữu, rốt ráo không, không thể đắc. Ở trong đó có chân vọng không? Không có. Có thiện ác hay không? Không có. Có đúng sai hay không? Không có. Gọi là rốt ráo không, không thể đắc.

         Cho nên tại sao Phật, Bồ-tát, La-hán, quý ngài buông xuống được? Vì như ở đây nói, quý ngài thức đạt chân tướng, quý ngài biết ‘có’ ‘không’, ‘có’ không tồn tại, ‘không’ cũng không tồn tại. ‘Có’ ‘không’ là vì chúng ta đối với cảnh giới này mà khởi lên ảo giác, nhận lầm nó rồi, còn chân tướng là thế nào? Chân tướng không thể đắc, không sở hữu, bất khả đắc. Chúng ta cho rằng ‘có’, cho rằng nó thật tồn tại, đó gọi là mê rồi, đó gọi là vô-minh. Chấp trước, chấp ‘có’, chấp ‘không’ chính là vô-minh, vô-minh thì họ tạo nghiệp, tạo nghiệp gì? Ở trong cảnh giới sanh khởi thất tình ngũ dục, tham sân si mạn nghi, đó chính là nghiệp. Nghiệp vốn là không có, tất cả các hiện tượng là giả, nên đương nhiên nghiệp không thể tồn tại, thế nhưng quý vị cho rằng nó có, vậy thì tổn thất lớn rồi. Tại sao vậy? Vì đem Nhất-chân-pháp-giới, Thật-báo-trang-nghiêm-độ mà tự-tánh sở hiện biến đổi. Bởi vì có nghiệp do chúng ta tạo, nên nghiệp lực biến Nhất-chân-pháp-giới thành mười-pháp-giới, biến thành sáu đường luân hồi. Cho rằng: thật có mười-pháp-giới, thật có sáu đường luân hồi, thì tổn thất lớn rồi, là đọa lạc trong mê ảo không ra được.

         Vì thế Phật từ bi, chỉ dạy chúng ta, điều đầu tiên là dạy chúng ta phải biết ‘có’, phải biết ‘không’, ‘có’ ‘không’ đều không tồn tại, phải biết có tự-tánh. Thế nhưng tự-tánh không sanh không diệt, nó là chân-tâm. Chân-tâm là gì? Nó không có vô-minh, nó không có trần-sa phiền-não, nó không có kiến-tư phiền-não, đều không có ba loại phiền-não đó. Nó sống trong cảnh giới chân-thường, đó không phải giả, mà là thật. Về chân-thường, thì chúng ta cũng không có khái niệm đó. Chúng ta dùng năm câu nói lúc Đại sư Huệ Năng khai ngộ, nhờ đó mà có được khái niệm, biết qua một đôi chút. Chân-tâm, thì là nó thực sự tồn tại, những tướng này là do nó hiện ra. Chân-tâm chỉ hiện những thứ, mà chúng ta nói là chân-tướng, là nhất-chân-pháp-giới, như Thế giới Cực Lạc, như Thế giới Hoa Tạng, cũng như Thế giới Mật Nghiêm vậy. Trong cảnh giới đó, không có khởi tâm động niệm, không có phân biệt chấp trước, là chân thật. Tịnh-độ-tông gọi nó là Thường-tịch-quang, nó ở đâu? Không chỗ nào mà nó không có, không lúc nào mà không có, nó là bản thể của tất cả vạn sự vạn vật, vạn sự vạn vật chính do từ nó mà hiện ra, năng sanh năng hiện; vạn sự vạn vật, toàn bộ vũ trụ, là nó sở sanh sở hiện. Sở sanh sở hiện, hiện ra tất cả hiện tượng không thể nói nó có, lúc không hiện ra cũng không thể nói nó không, đó là chân tướng của nó.

         Nếu như ở trong đó có chấp trước, với một niệm chấp trước, niệm vậy thì rất phiền phức, vì một niệm chấp trước đó thì niệm niệm đều là chấp trước, vậy là mê rồi. Niệm đó gọi là vô-minh, vô-minh là không sáng suốt. Không sáng suốt chính là vô-minh. Nếu sáng tỏ rồi, đã hiểu rõ mà vẫn chấp trước sự sáng tỏ đó, không buông xuống sự sáng tỏ đó, thì sự sáng tỏ đó chính là không sáng tỏ. Phật thuyết pháp không dễ, nếu nghe hiểu được, nghe hiểu thì sẽ khai ngộ, tại sao vậy? Vì không chấp trước. Người nghe không hiểu sẽ không khai ngộ, vì họ chấp trước, đem những điều nói trong kinh điển đều ghi nhớ cả, vậy thì biến thành nghiệp, biến thành chướng rồi. Khiến trí huệ Bát-nhã vốn có trong tự-tánh bị chướng ngại mất rồi, trí huệ không thể hiện tiền, mà hiện tiền đều là phiền não tập khí. Đạo lý này không thể không biết.

         Những lời nói này trong sách Tâm Đăng Lục, đều là giải thích cho biết ‘có’, biết ‘không’, “thức đạt ‘có’ ‘không’” là lời ở trong kinh. Tiếp theo là lời của Niệm lão, 識達,謂識心達本“Thức đạt, vị thức tâm đạt bổn”(thức đạt, tức là thức tâm đạt bản). Tâm là chân-tâm, bản là bản-thể, là bản-thể của tất cả vạn pháp. Nếu quý vị muốn nhận thức tâm, chân-tâm, thì quý vị phải hiểu được bản lai diện mục của vạn sự vạn vật. 了達“Liễu đạt”(liễu đạt), liễu là sáng tỏ, thông đạt, 從本以來自性清淨“tùng bổn dĩ lai tự tánh thanh tịnh”(từ xưa đến nay tự-tánh thanh tịnh), là thật sự thông đạt hiểu biết. Câu nói này, hoàn toàn tương đồng với năm câu nói của Đại sư Huệ Năng, một tức là năm, năm tức là một: tự-tánh thanh tịnh, tự-tánh không sanh không diệt, tự-tánh vốn sẵn đầy đủ, tự-tánh vốn không dao động, tự-tánh năng sanh vạn pháp. Biến pháp giới hư không giới từ đâu đến? Là do tự-tánh biến hiện ra, là năng sanh năng biến.

         Hiện tượng được biến hiện ra này, Tịnh-tông gọi là Thường-tịch-quang, ‘Thường’ chính là không sanh không diệt; ý nghĩa của ‘tịch’ chính là thanh tịnh, vô vi; ‘Quang’ là một vùng ánh sáng, không nơi nào không có, không lúc nào không có, toàn vũ trụ đều ở trong Thường-tịch-quang. Khi không có duyên, thì không hiện, là một vùng ánh sáng, ai biết được? Pháp-thân Bồ-tát biết được, khi đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, thì quý ngài thấy được Thường-tịch-quang. Thấy Thường-tịch-quang, chính là thấy được khắp pháp-giới, khắp pháp-giới hư không giới, quá khứ hiện tại vị lai, thật sự là ngang khắp mười phương, dọc khắp ba đời, không có điều gì mà quý ngài không biết.

         Mọi người phải biết rằng, giáo dục của Phật đà là muốn dạy cho mỗi người đều thành tựu đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, thì giáo dục của Phật Đà viên mãn rồi, tốt nghiệp rồi, thành Phật rồi. Chưa có triệt ngộ, còn ở địa vị Bồ-tát, Bồ-tát vẫn là học sinh, thì việc học của quý vị còn chưa viên mãn, quý vị còn phải tiếp tục nỗ lực. A-la-hán, vừa mới khai ngộ, là tiểu ngộ, là mới khai ngộ. Bồ-tát có 51 thứ bậc, giống như đi học vậy, năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba, cao nhất là năm thứ 51. Giáo lý Đại-thừa gọi đó là Thập-tín, ví như Tiểu học; Thập-trụ ví như Trung học cơ sở; Thập-hạnh ví như Trung học phổ thông; Thập-hồi-hướng ví như Đại học; Thập-địa ví như Cao học; Đẳng-giác ví như lớp tiến sĩ. Dùng cách so sánh này, thì mọi người dễ hình dung.

         Chương trình dạy học của nhà Phật, có 84 ngàn Pháp môn, tuyệt không có trường Đại học nào so sánh được với chương trình đó. 84 ngàn là con số, đó là biểu pháp, biểu thị điều gì? Biểu thị vô lượng vô biên, không có cùng tận. Chương trình dạy học mà Đại học Phật giáo mở ra là vô lượng vô biên, không có con số nào có thể hình dung được. Thế nhưng có chỗ diệu, diệu ở chỗ nào? Tuy pháp môn vô lượng vô biên, nhưng quý vị chỉ cần thông một môn rồi, thì liền thông hết tất cả. Giống như đại sảnh này của chúng ta, căn nhà lớn, có rất nhiều rất nhiều cửa đều đi vào được. Quý vị nhìn từ bên ngoài, có 84 ngàn cách đi vào, đi vào bất kỳ một cửa nào rồi thì đều như nhau, đi vào rồi, thì đều đạt được viên mãn. Không phải nói quý vị đi cửa này vào, thì quý vị chỉ nhìn thấy được một gian phòng, còn những gian phòng khác nhìn không thấy, không phải! Đi vào rồi thì đều nhìn thấy tất cả, đều thông đạt toàn bộ. Cho nên Phật mới nói với chúng ta: pháp môn bình đẳng, không có cao thấp.

         Tại sao có nhiều pháp môn như vậy? Vì căn tánh của chúng sanh không giống nhau, cảnh giới mê có khác nhau, mức độ mê cạn sâu khác nhau, mỗi mỗi không tương đồng, nếu khế cơ thì rất dễ thành tựu, không khế cơ thì rất khó, vào không được, cho nên cần 84 ngàn pháp môn. Đó gọi là pháp môn thông thường, pháp môn phổ thông. Ở trong đó còn có một pháp môn đặc biệt, tính chất không giống với tất cả pháp môn khác, chính là pháp môn Tịnh-độ. Pháp môn khác thành tựu rất chậm, chương trình học rất nhiều, thời gian rất dài; còn pháp môn Tịnh-độ rất đơn giản, chỉ một môn học. Một pháp môn khó tin, nhưng rất dễ thành tựu. Chỉ cần quý vị thật tin, thì quyết định quý vị một đời này thành tựu. Môn này là pháp dễ hành khó tin. Dễ đến mức độ nào? Chỉ một câu Phật hiệu, là niệm câu Phật hiệu này, những thứ khác đều không có. Niệm thành công rồi, vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, thì điều gì cũng biết hết. Khi sanh đến Thế giới Cực Lạc, thì trong đại nguyện của đức Di Đà có nói, đều làm A-duy-việt-trí Bồ-tát, A-duy-việt-trí là Pháp-thân Bồ-tát. Hay nói cách khác, quý vị sanh đến Thế giới Cực Lạc bằng Thất-địa Bồ-tát trở lên. Thất-địa là chứng vô-sanh-pháp-nhẫn, không những biết được ‘có’ ‘không’, mà biết được càng thấu triệt, độ biết được rất sâu, là đại Bồ-tát trong Pháp-thân Bồ-tát. Đây là điều mà những Bồ-tát cần tu, khổ tu thông thường trong 84 ngàn pháp môn không thể chấp nhận, không thể tin tưởng, bởi vì mê trong mười-pháp-giới, mê trong sáu đường luân hồi vô lượng kiếp, thì làm gì ra được dễ dàng chứ? Cho nên gọi là dễ hành khó tin.

         Người nào có thể tin tưởng? Thật sự, tin tưởng chẳng hề đơn giản. Trong kinh Đại-thừa Phật thường nói, trong vô lượng kiếp quá khứ đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, đời này được thân người, gặp được pháp môn này, thì họ được sự gia trì của chư Phật Như Lai. Sức mạnh của sự gia trì đó giúp đỡ họ có thể tin, không hoài nghi, y theo pháp môn này tu hành, thì đời này thành tựu rồi. Người thành tựu với pháp môn này nhiều, từ thời Đông Tấn đến nay, Đại sư Huệ Viễn xây dựng niệm Phật đường đầu tiên, ở Lô sơn, truyền mãi đến ngày nay. Qua nhiều thời đại, người nương theo pháp môn này tu hành thành tựu rất nhiều rất nhiều rồi, thật sự là vạn tu vạn người đi. Còn về tu hành, chúng ta cũng thường nghe nói, người niệm Phật nhiều, người vãng sanh ít, đó là do nguyên nhân gì? Phía trước đã nói, thật sự tiếp nhận, không hoài nghi, một câu Phật hiệu niệm đến cùng, đó là trong đời quá khứ đã cúng dường tất cả chư Phật Như Lai, nên duyên chín muồi rồi, được nhiều Phật như vậy gia trì cho quý vị. Nếu quý vị vẫn còn hoài nghi, vậy nói cách khác, quý vị đã cúng dường chư Phật Như Lai vẫn không đủ nhiều. Hiện tại ngay trong đời này, tu không ít pháp môn, niệm rất nhiều Phật, rất nhiều Bồ-tát, rất nhiều La-hán, đó chính là quý vị vẫn đang tích công lũy đức, quý vị vẫn đang giai đoạn đó, chưa chín muồi. Nếu như thật sự tin tưởng, không một chút hoài nghi, thì chín muồi rồi. Nên chúng ta có thể thấy được rõ ràng, có thể thấy được sáng tỏ.

         Vì thế tiếp theo đây nói, 此正相當於《大乘起信論》中之直心。直心者,正念真如法也“Thử chánh tương đương ư Đại Thừa Khởi Tín Luận trung chi trực tâm. Trực tâm giả, chánh niệm chân-như pháp dã”(Điều này giống như trực tâm nói trong Ðại Thừa Khởi Tín Luận. Trực tâm là chánh niệm pháp chân-như vậy). Đây là biết ‘có’ biết ‘không’, thức đạt ‘có’ ‘không’. Trực tâm, là chánh niệm chân-như. Tông-môn dùng tham cứu, Giáo-hạ dùng chỉ quán, trong Tịnh-độ-tông là nhất hướng chuyên niệm, đều là chánh niệm pháp chân-như. Có thể nêu ra một tấm gương cho chúng ta thấy được không? Có thể, lão Hòa thượng Hải Hiền chính là tấm gương tốt nhất. Tổ sư Đại đức truyền thọ pháp môn và phương pháp cho chúng ta là “một môn thâm nhập, huân tu lâu dài”, “đọc sách ngàn lần, tự thấy nghĩa kia”, cũng là trực tâm chánh niệm chân-như. Chỉ cần công phu sâu, thì hiệu quả xuất hiện ngay, hiệu quả là gì? Là trí huệ lộ ra, có tiểu ngộ, có đại ngộ, có đại triệt đại ngộ. Tiểu ngộ là Tiểu-thừa: Thanh-văn Duyên-giác; đại ngộ là Bồ-tát, đại triệt đại ngộ là Phật Đà.

         Chúng ta xem tiếp, 二者,緣修萬行“Nhị giả, duyên tu vạn hạnh”(Hai là duyên tu vạn hạnh), tương đương với thâm tâm nói trong Khởi Tín Luận, 樂修一切諸善行“Nhạo tu nhất thiết chư thiện hạnh”(Ưa thích tu tất cả thiện hạnh). Nhạo là ưa thích, hoan hỷ. Duyên tu vạn hạnh, quý vị thấy, trong đây dùng chữ ‘duyên’. Duyên của mỗi người cũng không giống nhau, cho nên Phật pháp dạy học thực sự là không có định pháp có thể học, không có pháp nhất định. Thầy dạy học trò hoàn toàn là ứng cơ trao truyền, học sinh thuộc dạng căn cơ nào, thì dùng phương pháp nấy mà dạy. Một người thầy dạy mười vị học trò, không phải là một cách dạy giống nhau, mà là mười cách, cho nên khế cơ với mọi người, thì ai ai cũng thành tựu. Khi Khổng Phu Tử ở đời, trong học trò của ngài có 72 người thành tựu, 72 người đó là duyên tu vạn hạnh, nên đều thành tựu rồi. Với 3000 đệ tử, mà trong 3000 người chỉ có 72 người thật sự thành tựu, thành A-la-hán, thành Bồ-tát, đó là chúng ta dùng thuật ngữ của kinh Phật để nói cho mọi người dễ hiểu. Khổng Tử ở cảnh giới nào? Là cùng một cấp độ với đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Quý vị đọc Luận Ngữ thì hiểu rõ, đó là cảnh giới của Phật, không phải của Tiểu-thừa. Chúng ta muốn đời này thành tựu, thì có liên quan với duyên, duyên tu vạn hạnh thì nhất định thành tựu. Phật pháp trọng thực chất không trọng hình thức, duyên tu là nói thực chất, không nói hình thức, chỉ cần hiểu được tu, thì sẽ có thành tựu. Điều thứ hai này tương đương với thâm tâm nói trong Khởi Tín Luận, ưa thích tu tất cả thiện hạnh.

         三者,大慈悲為本,相當於彼之大悲心,欲拔一切眾生苦故。是以此之三種發心,正《起信論》之三心“Tam giả, đại từ bi vi bổn, tương đương ư bỉ chi đại bi tâm, dục bạt nhất thiết chúng sanh khổ cố. Thị dĩ thử chi tam chủng phát tâm, chánh Khởi Tín Luận chi tam tâm”(Ba là ‘đại từ bi làm gốc’ thì tương đương với đại bi tâm trong Khởi Tín Luận: mong nhổ sạch tất cả nỗi khổ của chúng sanh. Ba loại phát tâm đây tương đương với ba tâm trong Khởi Tín Luận). Trong Khởi Tín Luận nói: trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm. Tâm đại bi rất quan trọng, tâm đại bi chính là tâm ái mà người ngày nay thường nói. Phật pháp không nói ái, mà nói từ bi, hai chữ đó cũng là tâm yêu thương. Bi là bạt khổ, giúp đỡ chúng sanh lìa tất cả khổ nạn, đây là bi tâm; từ là ban vui, giúp cho họ được vui. Giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui, tâm như vậy gọi là tâm từ bi. Cho nên đại từ bi làm gốc. Ở đây viết được rất hay, tương đương với tâm đại bi ấy, mong nhổ sạch tất cả nỗi khổ của chúng sanh. Ba loại phát tâm đây, chính là ba tâm trong Khởi Tín Luận. 此之三因能與大菩提相應。故知發如是之心,即是發大菩提心也“Thử chi tam nhân năng dữ đại Bồ-đề tương ưng. Cố tri phát như thị chi tâm, tức thị phát đại Bồ-đề tâm dã”(Ba nhân ấy có thể tương ưng với đại Bồ-đề. Nên biết rằng phát tâm như vậy, chính là phát đại Bồ-đề tâm).

         次者引《淨土論》“Thứ giả dẫn Tịnh Độ Luận”(Tiếp theo trích dẫn Tịnh Độ Luận). Tịnh Độ Luận chính là Vãng Sanh Luận, 謂菩提心,即願成佛度生,攝取眾生往生淨土之心。此心初看似較前心易於發起“Vị Bồ-đề tâm, tức nguyện thành Phật độ sanh, nhiếp thủ chúng sanh vãng sanh Tịnh-độ chi tâm. Thử tâm sơ khán tự giảo tiền tâm dị ư phát khởi”(Gọi là Bồ-đề tâm, tức là tâm nguyện thành Phật độ sanh, nhiếp thủ chúng sanh vãng sanh Tịnh-độ. Nhìn sơ qua: tâm này cũng khá giống với tâm trước nên cho là dễ phát khởi). Giống như điều phần trước đã nói thì dễ dàng phát khởi, nhưng mà trên thực tế, tâm này là có mức độ rất sâu, cũng không dễ dàng như vậy. Đặc biệt là trong xã hội hiện nay, đã lơ là giáo dục truyền thống rồi. Tại sao Phật pháp Đại-thừa truyền đến Trung Hoa, còn những nơi khác không có? Nói với chư vị: truyền thừa Phật pháp là bình đẳng, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật rời khỏi thế gian chúng ta, đệ tử của Ngài, không chỉ 3000 người, đã truyền bá Phật pháp ra bốn phương tám hướng. Trong lịch sử, địa lý ngày nay đều có thể khảo cứu ra được, đã hoằng dương ra bốn phương tám hướng. Nhưng chỉ riêng một nhánh ở Trung Hoa này mọc rễ thôi, không chỉ mọc rễ mà còn thật sự phát triển rực rỡ. Từ Ấn Độ truyền đến: Tiểu-thừa có Câu-Xá-tông, có Thành-Thật-tông, hai tông này hiện nay không còn nữa, Nam truyền Nam Dương là thuộc hai tông phái này. Đại-thừa có tám tông phái, đều là từ Ấn Độ truyền đến. Pháp-Tướng-Duy-Thức là tông thành lập ở Trung Hoa, cho nên sơ tổ của tông Duy-Thức là Đại sư Huyền Trang, nhị tổ là Đại sư Khuy Cơ, Tông này kiến lập ở Trung Hoa. Tịnh-độ cũng có thể nói là kiến lập ở Trung Hoa, từ Đại sư Huệ Viễn. Thiền-tông là do ngài Đạt Ma truyền đến, tông này từ Ấn Độ truyền qua. Ngài Đạt Ma là tổ thứ 28, truyền đến Trung Hoa, ở Trung Hoa tính ngài là Sơ Tổ, là Sơ Tổ của Trung Hoa. Thật sự, đều không phải là việc dễ dàng.

         Pháp môn Tịnh-độ, tiếp theo nói rất hay, 蓋以淨土往生法門,實為難信之法,信心未生,何能發心“Cái dĩ Tịnh-độ vãng sanh pháp môn, thật vi nan tín chi pháp, tín tâm vị sanh, hà năng phát tâm”(Bởi vì pháp môn Vãng Sanh Tịnh-độ, quả thật là pháp khó tin. Tín tâm chưa sanh thì làm sao phát tâm được). Câu nói này rất hay! Quá khứ, 200 năm trước, người Trung Hoa từ cổ đến đến nay đều xem trọng giáo dục, giáo dục bắt đầu từ lúc nào? Từ khi người mẹ mang thai, đó là thai giáo. Trong 10 tháng mang thai này, tư tưởng của người mẹ không có ác niệm, không có tà niệm, đều là chánh tri chánh kiến, ngôn ngữ của người mẹ nhu hòa, hoạt động của người mẹ đều như lý như pháp, đều giữ quy củ. Giống như 113 sự việc được nói trong Đệ Tử Quy, cha mẹ đều làm được tất cả. Đứa con vẫn chưa ra đời, chưa rời khỏi cơ thể người mẹ, thì chúng đã nhận được sự giáo dục tốt nhất. Đứa trẻ này sau khi sanh ra sẽ dễ dạy bảo, có đức hạnh, có trí tuệ thông minh, biết nghe lời, cũng chính là: thật thà, nghe lời, thật làm mà chúng ta thường nói, là nhờ lúc mang thai thì đã bắt đầu bồi dưỡng rồi.

         Sau khi sanh ra, chúng mở mắt ra để nhìn, chúng dựng tai lên để nghe. Đó là chúng đã đang học tập, ai dạy chúng? Cha mẹ dạy chúng. Chúng bắt chước làm theo lời nói và cử chỉ của cha mẹ, là chúng đang học tập, học bao lâu? Một ngàn ngày, cũng chính là ba năm. Từ lúc ra đời đến ba năm, thì vị thầy chủ nhiệm đầu tiên, là do cha mẹ đảm trách. Cho nên cha mẹ là giáo viên chủ nhiệm đầu tiên của con cái, để cắm gốc rễ. Ngạn ngữ xưa có câu nói “ba tuổi thấy tám mươi”, chúng xem ba năm, ngày ngày xem, xem cả một ngàn ngày, cho nên đã trở thành thói quen của chúng rồi. Thói quen của chúng, từ vấn đề tư tưởng đến ngôn ngữ hành vi, là học tập ở cha mẹ, đều học biết rồi, nên gọi là ba tuổi thấy tám mươi. Ba tuổi, chúng đã được học những luân lý giáo dục đạo đức đó, thì rễ được cắm đã ăn rất sâu rồi.

         Đến sáu, bảy tuổi đi học, thì giáo viên dạy chúng, sẽ dễ dạy. Thầy cô tiếp tục cần làm biểu pháp. Làm thầy cô không dễ, vì phải làm tấm gương cho học sinh. Tấm gương của học sinh, ban đầu là cha mẹ đã tạo nền tảng cho chúng, bây giờ để thầy cô giúp đỡ thêm cho chúng trưởng thành. Trong quá trình này, có rất nhiều sách vở, kinh điển, kinh, là việc dạy học của đại Thánh đại Hiền. Những văn tự này phải để cho các bạn nhỏ đọc tụng, nhìn vào sách vở là đọc, không nhìn sách vở là tụng, tụng chính là đọc thuộc lòng. Tại sao phải học thuộc lòng? Vì học sinh còn rất nhỏ, trí tuệ chưa mở, trí nhớ rất tốt, cho nên chỉ dạy chúng nhớ, đôn đốc chúng số lần đọc. Cổ nhân dạy chúng ta: “Đọc sách ngàn lần, tự hiểu nghĩa kia”. Đọc bộ sách này từ đầu đến cuối, học sinh có đọc đủ một ngàn lần hay không, là dùng đó làm tiêu chuẩn. Mỗi ngày, đọc mười lần, đọc hai mươi lần, đọc ba mươi lần, tiến độ của mỗi học sinh không giống nhau. Có bạn rất thông minh, đọc mấy lần thì thuộc rồi; có một số kém một chút, đọc mười mấy lần mới thuộc được; còn kém hơn nữa, phải đọc hai mươi lần mới có thể thuộc, mỗi một người không giống nhau. Cho nên chú ý là duyên không giống nhau, thông minh, trí nhớ tốt, số lần đọc nhiều, thì tăng tốc độ lên, vì tiến độ là mỗi người không giống nhau. Bộ này tôi đọc xong rồi, mới học bộ thứ hai, không được cùng lúc học hai thứ, chỉ có thể học một thứ, thuộc lòng từng bộ một. Ví dụ nói Tứ Thư gồm sách: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, thì đọc Đại Học trước, Đại Học đọc đủ một ngàn lần, lại đọc Trung Dung, Trung Dung cũng đọc một ngàn lần, rồi đọc Luận Ngữ, Luận Ngữ cũng đọc một ngàn lần, lại đọc Mạnh Tử, Mạnh Tử cũng đọc một ngàn lần, cách dạy là như vậy.

         Trẻ em đọc đến thuộc làu làu, đọc một ngàn lần có lúc chúng sẽ ngộ, chúng hiểu được ý nghĩa bên trong, thì giảng cho thầy nghe. Không phải thầy giảng cho chúng nghe, mà chúng giảng cho thầy nghe, thầy lại cùng với chúng nghiên cứu, để nâng cao trí huệ của chúng, nâng cao kiến giải của chúng. Giáo viên phải hiểu được việc dạy học, giáo viên không thể giảng cho học sinh nghe, giảng cho học sinh nghe, thì chúng hoàn toàn trở nên học theo kiểu học ghi nhớ. Quan trọng nhất là giáo viên phải giúp học sinh khai ngộ, được tiểu ngộ, trung ngộ, đại ngộ, là giúp chúng khai ngộ. Để học sinh đọc, đọc một ngàn lần có chỗ ngộ của một ngàn lần, đọc thêm một ngàn lần lại có chỗ ngộ, không giống với lúc đầu. Nếu như một ngày đọc mười lần, không khó, một năm thì 3000 bộ, mỗi năm đều nâng lên cao, thật sự có thể đến đại triệt đại ngộ; dù không đạt được đại triệt đại ngộ, thì cũng có thể đến đại ngộ. Đại triệt đại ngộ là Thánh nhân, đại ngộ là Hiền nhân, là Bồ-tát, tiểu ngộ là A-la-hán, là Bích-chi-Phật. Đây là triết lý học tập, triết lý dạy học của cổ nhân, là không giống với ngày nay. Mục tiêu học tập cuối cùng của cổ nhân là thành Thánh nhân, Hiền nhân, Quân tử; đó là giáo dục của Thánh Hiền Quân tử.

         Sự giáo dục này, đã cắm rễ chắc rồi, thì đến mười bốn, mười lăm tuổi, học kinh Phật sẽ rất dễ khế nhập. Quý vị thấy Đại đức xưa nay, đa phần Tổ sư Đại đức, xuất gia khi nào? Mười mấy tuổi xuất gia, thì học tập kinh điển, các ngài đã có nền tảng văn hóa truyền thống rồi, có gốc rễ ấy nên các ngài học không khó. Phương pháp học không thay đổi, lúc nhỏ ở nhà học, là đọc sách ngàn lần, xuất gia học với sư phụ là vẫn đọc kinh ngàn lần. Sau khi đọc xong ngàn lần, thì giảng cho thầy nghe, có một số điều giảng được khá, đích thực có chỗ ngộ. Thầy cùng với các ngài nghiên cứu thảo luận, giúp các ngài nâng cao, dạy các ngài lên đài giảng, vì đại chúng mà giảng kinh thuyết Pháp dạy học. Nhờ vậy, mà đào tạo ra nhân tài từ đời này sang đời khác, không phải ngẫu nhiên. Hễ lên đài giảng kinh đều là người khai ngộ, chưa khai ngộ không được lên đài giảng, chưa có khai ngộ không được làm chú giải. Lúc xưa việc dạy học nghiêm khắc như vậy.

         Ngày nay gặp vấn đề gì? Là không có gốc, vấn đề này nghiêm trọng. Trường học hiện nay, mặc dù chúng ta mở viện Hán Học, mở viện Phật học, mở Đại học Phật giáo, nhưng giáo viên của chúng ta tuyệt đại đa số đều là xuất gia giữa chừng, trung niên xuất gia mới học Phật không phải từ nhỏ. Tôi tiếp xúc Phật Pháp năm 26 tuổi, 33 tuổi xuất gia, xuất gia thì bắt đầu dạy học, gốc rễ không đủ sâu. Tôi học Phật bảy năm, thì xuất gia giảng kinh dạy học. Nhìn lại người xưa, cổ nhân là mười mấy năm, ít nhất đều từ 15 năm trở lên, tôi so với các ngài, ít hơn một nửa. Cho nên ngày nay chúng ta nghĩ đến, làm thế nào để mở trường học theo dạng dây chuyền. Thế nào là dạng dây chuyền? Là mở từ lớp Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học, Đại học, mở tiếp nối một mạch. Đây cũng là một trường học đặc thù, có thể hướng đến để Bộ giáo dục áp dụng, chúng ta nêu đề án. Loại trường học này áp dụng hình thức khép kín, tại sao vậy? Vì xã hội là cái chậu ô nhiễm lớn, ô nhiễm nghiêm trọng. Nên những điều quý vị xem, nghe, tiếp xúc được, đều là giúp kích động những tà tư tà niệm, tà thuyết tà hạnh của quý vị vị, vấn đề này nghiêm trọng. Cho nên xã hội ngày nay động loạn, tai nạn nhiều như vậy, không phải là không có nguyên nhân. Nguyên nhân căn bản là ở giáo dục. Môi trường dạy và học của cổ nhân tốt, học sinh đi học tư thục, tư thục là hình thức khép kín. Trong một buổi học ít nhất là hai, ba tiếng đồng hồ; phần nhiều đều là ba, bốn tiếng đồng hồ, giữa giờ không nghỉ ngơi, để tập trung tinh thần của quý vị, nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu. Ba đến năm năm dưỡng thành thói quen, đến già vẫn quen thành tự nhiên, nếu từ nhỏ thành thiên tánh như vậy, thì chúng nhận được hiệu quả này, cho nên có thể thành bậc đại pháp khí.

         Chúng ta lại xem mấy câu tiếp theo. 信心未生,何能發心“Tín tâm vị sanh, hà năng phát tâm”(Tín tâm chưa sanh thì làm sao phát tâm được). Tâm đó phát không ra được, vì trước tiên phải có niềm tin, phải đoạn nghi sanh tín. 如《阿彌陀經》云:十方諸佛,稱讚本師,於五濁世,為諸眾生,說是一切世間難信之法“Như A Di Đà Kinh vân: Thập phương chư Phật, xưng tán Bổn sư, ư ngũ trược thế, vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp”(Như Kinh A Di Đà nói: Mười phương chư Phật khen ngợi đức Bổn sư, ở trong đời ác ngũ trược, vì chư chúng sanh, mà thuyết pháp tất cả thế gian khó tin này). Đó là Kinh A Di Đà, thật không dễ dàng, đặc biệt là ở xã hội ngày nay, thực sự là khó! 又本經《獨留此經品》曰:若聞斯經,信樂受持,難中之難,無過此難“Hựu bổn kinh, Độc Lưu Thử Kinh Phẩm viết: nhược văn tư kinh, tín nhạo thọ trì, nan trung chi nan, vô quá thử nan”(Và phẩm Chỉ Lưu Lại Kinh Này nói: Nếu nghe kinh này, tin thích thọ trì, là khó trong khó, không gì khó hơn), là không còn gì khó hơn được nữa. Những lời này đều nói rõ, có thể tin Tịnh-độ, thực tế là việc khó trong tất cả việc khó của thế gian. 於此難信能信“Ư thử nan tín năng tín”(Đối với việc khó này mà tin được), thì đó là bậc đại trí. 順此信心,發成佛度生同登淨土之願,即是發菩提心也“Thuận thử tín tâm, phát thành Phật độ sanh đồng đăng Tịnh-độ chi nguyện, tức thị phát Bồ-đề tâm dã”(Thuận theo niềm tin ấy, phát nguyện thành Phật độ sanh cùng lên Tịnh-độ, đó chính là phát Bồ-đề tâm), thật sự khó phát.

         Hôm nay, chúng ta có duyên này, thì hãy nắm chắc duyên ấy, thành công được hay không là do chính chúng ta có nắm chắc hay không. Chúng ta dựa vào Tổ tông, cầu Tổ tông bảo hộ, chúng ta nương vào Tam Bảo, cầu Phật Bồ-tát gia trì, để việc mở trường học này thành công. Đây chính là bao gồm ngày nay chúng ta xây dựng viện Hán Học ở mấy nơi, cũng có mấy nơi đang mở trường tư thục dây chuyền, mở trường tư nhân, để làm điểm thực nghiệm. Làm thành công, hiện ra kết quả, thì mọi người sẽ tin tưởng thôi. Những chương trình dạy học này dạy gì? Cấp độ của viện Hán Học tương đương với Đại học thông thường, vả lại còn có học vị, có thạc sĩ, có tiến sĩ, có học vị thật. Làm sao để nhận định chương trình? Mục đích của chúng ta là gì? Thực tế mục đích của chúng ta cực kỳ đơn giản, chính là bồi dưỡng một tốp giáo viên hạng nhất trong tương lai thật sự truyền thừa văn hóa truyền thống chúng ta, để cho những vị ấy kế thừa văn hóa truyền thống, phổ biến rộng rãi văn hóa truyền thống, truyền lại cho đời sau. Nguyện vọng của chúng tôi là như vậy, rất đơn giản. Cho nên chương trình dạy học, chúng tôi tuyển chọn Quần Thư Trị Yếu và Quốc Học Trị Yếu.

         Tại sao vậy? Vì đọc được hai bộ sách này, hai bộ sách này là tinh hoa do Đại đức xưa chọn lọc trong Tứ Khố, hiểu được những điều trong hai bộ sách này rồi, thì quý vị có năng lực để học Tứ Khố Toàn Thư. Quý vị thích loại nào trong Tứ Khố Toàn Thư, thì lựa chọn một bộ đó, dùng thời gian mười năm để chuyên công, sau mười năm thì quý vị trở thành chuyên gia Hán học. Quý vị chuyên công một bộ này thông rồi, thì những bộ khác chưa học cũng có thể thông suốt. Cho nên thông một kinh thì thông tất cả kinh, thông đạt một môn rồi, thì tất cả môn đều thông. Đây cũng có thể nói, giống như trên Kinh Đại-thừa nói: Pháp môn bình đẳng, không có cao thấp. Phải khai ngộ, đối với những lời dạy của Thánh Hiền phải có khai ngộ, phải ngộ mới có tác dụng, không khai ngộ không được, tuyệt đối không phải là học theo kiểu ghi nhớ, không phải ghi nhớ nhiều ít, mà phải khai ngộ. Chúng ta đặt mục tiêu định ở nơi ấy, toàn tâm toàn lực mà thúc đẩy.

         Mấy câu nói ở sau, tin được là đại trí tuệ, mà còn là đại phước báu, 順此信心,發成佛度生同登淨土之願“Thuận thử tín tâm, phát thành Phật độ sanh đồng đăng Tịnh-độ chi nguyện”(Thuận theo niềm tin ấy, phát nguyện thành Phật độ sanh cùng lên Tịnh-độ), vãng sanh Thế giới Cực Lạc. Để làm gì? Để theo học với A Di Đà Phật. Thầy ở Thế giới Cực Lạc là A Di Đà Phật, đồng học là chư đại Bồ-tát, đến bên đó để lấy học vị tiến sĩ của Thế giới Cực Lạc. Học vị tiến sĩ ở Thế giới Cực Lạc là Địa-thượng Bồ-tát, là thập Thánh; học vị thạc sĩ là tam Hiền. thập Trụ, thập Hạnh, thập Hồi-hướng, là tam Hiền; thập Địa là học vị tiến sĩ. Đến Thế giới Cực Lạc để lấy những học vị ấy. Sau đó mới có trí huệ, có năng lực, có thần thông, giúp đỡ tất cả chư Phật Như Lai trong biến pháp giới hư không giới giáo hóa chúng sanh. Phát đại nguyện như vậy, đó là đại tâm.

         Vì vậy mấy câu nói ở đây, 但能真實信受,自然能發如上之心。是又為淨宗之殊勝方便“Đản năng chân thật tín thọ, tự nhiên năng phát như thượng chi tâm. Thị hựu vi Tịnh-tông chi thù thắng phương tiện”(Hễ mà thật sự tin nhận, thì tự nhiên phát tâm được như trên. Ðây lại chính là phương tiện thù thắng của Tịnh-tông). Phương tiện của pháp môn Tịnh-độ-tông không gì thù thắng hơn. 如《彌陀要解》云:深信發願,即無上菩提。是以念佛之人,必宜早生信願,是即發菩提心也“Như Di Đà Yếu Giải vân: Thâm tín phát nguyện, tức vô thượng Bồ-đề. Thị dĩ niệm Phật chi nhân, tất nghi tảo sanh tín nguyện, thị tức phát Bồ-đề tâm dã”(Như Sách Di Ðà Yếu Giải nói: Tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ-đề. Bởi thế, người niệm Phật cần phải sớm sanh tín, nguyện; vì đó chính là phát Bồ-đề tâm vậy). Lão Hòa thượng Hải Hiền làm ra tấm gương tốt nhất cho chúng ta. Ngài 20 tuổi, dựa trên căn tánh của chính mình là: thật thà, nghe lời, thật làm. Ngài có đủ ba điều kiện đó. Cho nên sư phụ đặc biệt chỉ bảo cho ngài: lão thật niệm Phật. Dạy ngài một câu A Di Đà Phật, căn dặn ngài một mạch mà niệm, ngài thật làm, lão lão thật thật niệm 92 năm. Niệm đến trình độ nào? Niệm đến cảnh giới của Pháp-thân Bồ-tát, là trong Thiền-tông nói: đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Ngài niệm đến cảnh giới ấy. Ngài không có đi học, ngài không biết chữ, thế nhưng bất kể kinh gì, nếu quý vị hỏi ngài, dường như ngài đều hiểu, ngài đều giải thích được cho quý vị, nói ra đại đạo lý, khiến người khâm phục. Ngay trong đồng học chúng ta cũng có hai người, học được rất giống với ngài Hải Hiền. Cư sĩ Lưu Tố Vân, cả đời chuyên công Kinh Vô Lượng Thọ, mỗi ngày đọc Kinh Vô Lượng Thọ mười mấy hai mươi lần, cô ấy niệm được 20 năm, đã nhuần nhuyễn rồi. Còn có Cư sĩ Hồ Tiểu Lâm ở Bắc Kinh, sáu năm gần đây chuyên công Đại Thừa Khởi Tín Luận, tôi đã nghe hai bài giảng của ông ấy, giảng rất hay, nói rất chính xác, rất khó tìm được một người nào so sánh được với thầy ấy. Thầy ấy đã niệm Đại Thừa Khởi Tín Luận hơn 3000 lần, nên tự hiểu nghĩa ấy, là không khó.

         Bồi dưỡng thiện tri thức thật sự có thành tựu, để hoằng Pháp lợi sanh, dù là tại gia hay xuất gia, phương pháp đều giống nhau: “Nhân giới đắc định, nhân định khai huệ”. Đọc 3000 lần là trì giới, quý vị phải hiểu, đó là giới, sau 3000 lần thì được định. Tâm định rồi, đọc sách 3000 lần, thì vọng tưởng không còn nữa, tạp niệm không còn, phân biệt không còn, chấp trước không còn nữa. Nên quý vị đắc định, định khai được huệ, chính là quý vị đều hiểu hết ý nghĩa nói trong kinh điển. Hiện nay học tập không có thầy nữa. Những vị cao nhân thế hệ trước đều đã vãng sanh, đi rồi. Hiện nay không có ai, hiện tại đều dựa vào chính mình, chính mình là sao? Là vô sư tự thông. Quý vị y theo phương pháp này, một môn thâm nhập, đọc sách ngàn lần, thì có thể không thầy tự thông. Phải kiên trì lâu dài, dùng tâm chân thành, dùng tâm cung kính, dùng tâm thanh tịnh, thì nhất định quý vị được thành tựu.

         Sau khi thật sự thành tựu, quý vị mới dạy được người khác, giảng kinh là giúp đỡ quần chúng rộng lớn, giúp họ nhận biết giáo dục Thánh Hiền, giúp họ nhận biết Phật pháp Đại-thừa, mục đích ở nơi ấy. Sau khi nhận biết, thì quý vị mới tuyển chọn, lựa chọn một môn để chuyên công, thâm nhập. Trung niên trở lên đều kịp được, thậm chí lớn tuổi, mà đối với Tịnh-độ thật sanh khởi được niềm tin, thì đều có thể vãng sanh. Pháp môn này phương tiện thù thắng, không gì sánh được. Cho nên phải phát tâm, nếu không thì uổng phí thời gian của chúng ta, vậy thì thật đáng tiếc! Có thể nắm chắc thời gian, một giây một phút đều không bỏ, thì người ấy chắc chắn thành Phật, vãng sanh chính là thành Phật. Hai câu sau cùng này là Niệm lão khuyên chúng ta, khuyên người niệm Phật, nhất thiết phải sớm sanh tín nguyện, càng sớm càng tốt, thật tin thật nguyện, đó chính là phát Bồ-đề tâm.

         Tiếp theo là đoạn thứ tư, 問答解釋“Vấn đáp giải thích”(Vấn đáp giải thích). Vấn đáp này là do Niệm lão giả thiết. 問曰:若備修萬行,能感菩提,得成佛者,何故《諸法無行經》云:若人求菩提,即無有菩提,是人遠菩提,猶如天與地“Vấn viết: Nhược bị tu vạn hạnh, năng cảm Bồ-đề, đắc thành Phật giả, hà cố Chư Pháp Vô Hành Kinh vân: Nhược nhân cầu Bồ-đề, tức vô hữu Bồ-đề, thị nhân viễn Bồ-đề, do như thiên dữ địa”( Hỏi rằng: Nếu tu đủ vạn hạnh, thì cảm được Bồ-đề, đắc thành Phật quả, thì sao kinh Chư Pháp Vô Hành lại nói: Nếu ai cầu Bồ-đề, thì chẳng có Bồ-đề. Người ấy cách xa Bồ-đề, như trời cách xa đất). Đến vấn đề này rồi, nhằm vào điều đã nói phần trước. Quý vị nêu ra vấn đề: ‘Nếu tu đủ vạn hạnh, thì cảm được Bồ-đề’. Mà kinh này thì nói: ‘Nếu ai cầu Bồ-đề, thì chẳng có Bồ-đề’. Lời này là thế nào? Phần sau giải thích. 釋曰:有人根據《諸法無行經》中所云,若人求菩提,即無有菩提可得,此求者乃遠離於菩提,如天與地之相隔遠。既然如此,今何云,修萬行,能得菩提之果,而成佛耶?以下作答“Thích viết: Hữu nhân căn cứ Chư Pháp Vô Hành Kinh trung sở vân, nhược nhân cầu Bồ-đề, tức vô hữu Bồ-đề khả đắc, thử cầu giả nãi viễn ly ư Bồ-đề, như thiên dữ địa chi tương cách viễn. Tức nhiên như thử, kim hà vân, tu vạn hạnh, năng đắc Bồ-đề chi quả, nhi thành Phật da? Dĩ hạ tác đáp”(Xin giải thích: Có người dựa vào trong kinh Chư Pháp Vô Hành nói: Nếu ai cầu Bồ-đề thì chẳng có Bồ-đề để đắc, sự mong cầu ấy càng cách xa Bồ-đề, như trời cách xa đất. Nếu đã là như vậy, thì nay tại sao lại bảo: phải tu vạn hạnh để đạt được quả Bồ-đề, ngõ hầu thành Phật? Dưới đây là lời đáp). Tiếp theo là phần đáp. Vấn đáp này xem qua dường như rất dễ hiểu, nhưng trên thực tế rất sâu, hỏi được rất sâu.

         Chúng ta xem phần trả lời tiếp theo, 菩提正體,理求無相。今作相求“Bồ-đề chánh thể, lý cầu vô tướng. Kim tác tướng cầu”(Chánh thể Bồ-đề là lý cầu vô tướng. Nay dùng tướng để cầu), Quý vị hiện đang dính tướng, quý vị dính tướng cầu thì, 不當理實“Bất đương lý thật”(không tương đương thật-lý), là không tương ưng với lý-thể của Bồ-đề tâm. 故名人遠“Cố danh nhân viễn”(nên nói người ấy cách xa), vì vậy nêu thí dụ để nói khoảng cách giữa quý vị và Bồ-đề càng ngày càng xa rồi. 是故經言菩提者,不可以心得,不可以身得也“Thị cố kinh ngôn Bồ-đề giả, bất khả dĩ tâm đắc, bất khả dĩ thân đắc dã”(Cho nên, kinh dạy đối với Bồ-đề, thì chẳng thể dùng tâm, chẳng thể dùng thân để đắc được). Tiếp theo giải thích: 菩提真正之本體,契理,則無一切相。理者,實際理體,亦即真如實相。行人若作相以求,意存菩提之果,與求菩提之法,此均是法執,即是作相。自離於理體之實際,故云不當理實。此人則遠離於菩提也“Bồ-đề chân chánh chi bản thể, khế lý, tắc vô nhất thiết tướng. Lý giả, thật tế lý thể, diệc tức chân như thật tướng. Hành nhân nhược tác tướng dĩ cầu, ý tồn Bồ-đề chi quả, dữ cầu Bồ-đề chi pháp, thử quân thị pháp chấp, tức thị tác tướng. Tự ly ư lý thể chi thật tế, cố vân bất đương lý thật. Thử nhân tắc viễn ly ư Bồ-đề dã”(Bản thể chân thật của Bồ-đề, khế lý thì không có tất cả tướng. ‘Lý’ là Thật-tế-lý-thể, cũng chính là Chân-như Thật-tướng. Hành nhân nếu dùng tướng để cầu, có ý mong cầu quả Bồ-đề, và có pháp để cầu Bồ-đề, thì đều là chấp pháp, chính là dính tướng. Nên tự xa lìa thật-tế của Lý-thể. Do vậy, mới nói: chẳng tương đương với thật-lý. Thì người ấy xa cách với Bồ-đề). Ý nghĩa của những lời này rất sâu.

         經言“Kinh ngôn”(Kinh nói), trong kinh Phật có câu như vầy: 菩提者,不可以心得,不可以身得“Bồ-đề giả, bất khả dĩ tâm đắc, bất khả dĩ thân đắc”(đối với Bồ-đề, thì chẳng thể dùng tâm, chẳng thể dùng thân để đắc được). Thân là hiện tượng vật chất, tâm là hiện tượng tinh thần. Thân của quý vị không đạt được, tâm này của quý vị cũng không đạt được. Vậy cầu bằng cách nào? Cho nên ở đây đã dạy cho chúng ta, giải thích cho chúng ta rằng: 菩提真正之本體,契理,則無一切相 “Bồ-đề chân chánh chi bản thể, khế lý, tắc vô nhất thiết tướng”(Bản thể chân thật của Bồ-đề, khế lý thì không có tất cả tướng). Thế nào là ‘lý’? là Thật-tế Lý-thể, danh từ này rất khó hiểu, cũng chính là Chân-như-thật-tướng. Danh từ Chân-như-thật-tướng này chúng ta nghe rất nhiều, trong kinh Đại-thừa thường hay nói: Chân-như-thật-tướng. Chúng ta đối với danh từ này có chút khái niệm, thế nào là Chân-như, thế nào là thật-tướng? Chúng ta không có cách nào lý giải nghĩa chân thật của nó được. Thật-tướng là chân-tướng, chúng ta dùng thí dụ để nói, để chúng ta có khái niệm. Thật-tướng là chân-tướng, ví như chúng ta đang ở trước tivi, chúng ta đối mặt với hình ảnh trên màn hình, thật-tướng của hình ảnh đó là gì? Là chân-tướng, tướng chân-thật, tướng chân-thật của hình ảnh đó là vô tướng. Tại sao vậy? Hình ảnh đó là hình ảnh động, giống như phim hoạt hình vậy, tấm hình trước chiếu lên màn hình, thời gian của nó rất ngắn, chỉ 1% giây. Chúng ta vẫn chưa kịp nhìn, thì nó đã nhảy rồi, tấm đầu tiên không còn nữa, tấm thứ hai xuất hiện, tấm thứ hai không còn nữa, tấm thứ ba xuất hiện, một giây đồng hồ chiếu 100 tấm, đó là thật-tướng của nó. Chúng ta có nhìn thấy nó nhảy qua không? Không nhìn thấy, kỳ thực nó đang nhảy. Mới có 100 tấm, 1% của giây, mà chúng ta bị mê hoặc rồi, nên điều mà chúng ta nhìn thấy được là vọng tướng, là giả tướng. Trong Kinh Kim Cang nói nó là mộng huyễn bào ảnh, có hay không? Không thể nói không có, cũng không thể nói có.

         Chân-như-thật-tướng, đây là Thích Ca Mâu Ni Phật dạy học bất đắc dĩ phương tiện nói một danh tướng, nói danh từ đó, để cho mọi người có khái niệm, nhưng không thể chấp trước khái niệm đó. Hễ chấp thì sao? Thì biến thành chấp pháp rồi. Chấp có hai loại lớn, một là chấp nhân, hai là chấp pháp. Chấp nhân, là chấp trước thân thể này là ta, chấp trước tên này là ta. Có chấp trước này, thì phiền phức lớn rồi, đó là phàm phu sáu đường, đó là tâm luân hồi, sự luân hồi. Sáu đường luân hồi chính là do vậy mà có. Chính là quý vị có nhân ngã chấp, có pháp ngã chấp, từ trong chấp trước biến hiện ra cảnh giới này. Cảnh giới này là hư ảo không thật, là tướng cảnh giới. Tướng cảnh giới là của A-lại-da, do vậy mà có. Làm thế nào thì quý vị mới biết được thật tướng? Buông xuống tất cả chấp trước, thì chân-tướng hiện tiền. Chân-tướng hiện tiền vẫn còn một phiền phức, là căn bản vô-minh. không phá được những thứ này, thì quý vị vẫn là không thấy chân-tướng, biết có chân-tướng, mà nhìn không thấy. Đó là điều gì? Chúng tôi nói thô một tí, cạn một tí để mọi người dễ hiểu, là khởi tâm động niệm. Mắt chúng ta thấy sắc, khởi tâm động niệm rồi, lập tức liền khởi tâm động niệm; Hễ khởi tâm động niệm, thì phân biệt chấp trước lập tức liền sanh. Ngay trước mắt đã xuất hiện hai sự việc: một là tôi thích, tôi yêu; hai là tôi không thích, tôi không yêu. Ý nghĩ như vậy đã sanh ra rồi, Thì thế nào? Đó là đã tạo nghiệp rồi.

         Tướng đó, tướng hiện trên màn hình, là giả tướng, tướng sanh diệt. Màn hình tuy không sanh không diệt, nó không tướng, nó là một vùng ánh sáng. Giống như Thường-tịch-quang không nơi nào không có, không lúc nào không có, là một vùng quang minh. Một vùng quang minh này không thể nói nó ‘không’, tại sao vậy? Vì nó có thể hiện tướng, gặp được duyên thì nó liền có thể hiện tướng. Chúng ta mở kênh đài, thì tướng sẽ hiện ra. Chúng ta lấy màn hình là ví dụ cho Thường-tịch-quang, lấy hình sắc ví dụ cho mười pháp-giới, ví dụ cho sáu đường luân hồi. Chúng ta dùng ví dụ này thì tương đối khá dễ lãnh hội, dễ dàng sanh ra khái niệm đó. Nhưng cũng không cho phép quý vị phân biệt chấp trước khái niệm đó, vì một khi phân biệt chấp trước, thì hỏng rồi, là tạo nghiệp. Quý vị ưa thích, là thiện nghiệp; nếu không ưa thích, là ác nghiệp. Không tạo nghiệp à! Khởi tâm động niệm là đã tạo rồi, đó gọi là ý nghiệp. Nghiệp có thân khẩu ý. Nghiệp do thân và khẩu tạo thì quý vị dễ biết; còn khởi tâm động niệm thì quý vị không dễ biết. Tất cả đều đang tạo nghiệp, đặc biệt là ý nghiệp, ý nghiệp là một giây đồng hồ tạo bao nhiêu lần? Là 2240 ngàn tỷ lần, mà không biết! Một khi quý vị  không vui, một khi tâm sân hận, tuy là một lúc là qua rồi, mấy giây đồng hồ thì qua rồi, một giây là 2240 ngàn tỷ lần. Không được rồi! Thật quá đáng sợ! Sau khi chết đến chỗ Diêm Vương để tính sổ là cách tính như vậy đó. Thật là quá đáng sợ, không thể không biết điều này.

         Cho nên, Phật Bồ-tát dạy chúng ta, dạy chúng ta tịnh niệm liên tục, đó cũng là tạo nghiệp, tạo nghiệp gì? Tạo tịnh nghiệp, tạo nghiệp vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, nghiệp này tốt, nghiệp này tạo chín muồi rồi, thì A Di Đà Phật đến tiếp dẫn quý vị vãng sanh. Vậy thì chúng ta không tạo nghiệp khác, niệm niệm đều là A Di Đà Phật, chúng ta khiến ý niệm này, niệm này tiếp nối niệm kia là: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật. Không để gián đoạn. Tại sao vậy? Vì một khi gián đoạn, thì ý niệm khác liền chen vào ngay. Vậy thì công phu niệm Phật bị đứt quãng, bị ô nhiễm rồi, thì công phu không thể thành phiến. Điều này không thể không biết. Cho nên, có tâm cầu đều là vọng-tâm, chúng ta cầu sanh Tịnh-độ cũng là vọng-tâm, nhưng vọng-tâm này tốt. Quý vị vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc thì dùng chân-tâm rồi. Tại sao vậy? Không phải công phu của quý vị được nâng lên, không phải vậy, mà nhờ công đức vô lượng kiếp của A Di Đà Phật, và công đức tu hành của Ngài, cộng thêm sự gia trì của 48 nguyện, nên Bồ-đề tâm của quý vị hiện tiền, Thật-báo-độ của quý vị hiện ra, nguyên nhân là như vậy.

         Quý vị ngay trong đời này, thời gian rất ngắn thì có thể tu thành, đại đa số người thông thường ba năm thì công phu thành phiến, tuy còn thọ mạng, nhưng không cần nữa, cầu Phật dắt quý vị vãng sanh, thì Phật tiếp dẫn quý vị đi rồi. Người ba năm đi quá nhiều quá nhiều rồi, đó không phải là thọ mạng của họ, không thể đúng lúc như vậy, mà là Phật lực gia trì cho quý vị, Phật đến tiếp dẫn quý vị. Mấy năm trước, Thâm Quyến có một Cư sĩ, nghe nói niệm Phật ba năm được vãng sanh, là Hoàng Trung Xương, vị ấy tuổi không lớn, anh ấy nói: tôi thí nghiệm thử xem, nếu thật sự đi được thì tôi sẽ đi. Anh ấy bế quan hai năm mười tháng, còn thiếu hai tháng là đủ ba năm, thì vãng sanh rồi. anh ấy tự nói, anh không cần thọ mạng nữa. Thật sự là người mãn nguyện. Vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, chính là Pháp-thân Bồ-tát, là A-duy-việt-trí Bồ-tát. A-duy-việt-trí Bồ-tát, A-duy-việt-trí thật sự là Thất-địa, là Thất-địa trở lên, chứng đắc vô-sanh-pháp-nhẫn.

         Cho nên Bồ-đề có cần phải cầu hay không? Phải cầu, nhưng không được dính tướng. Ý nghĩa của Bồ-đề phải rõ ràng, Bồ-đề chính là chân-như, chính là tự-tánh. Đời này tôi học Phật, tôi phải kiến tánh, tôi phải minh tâm. Trong kinh điển Phật Bồ-tát dạy cho chúng ta, chúng ta phải nghiêm túc nỗ lực học tập, chăm chỉ nỗ lực học tập nhưng không được chấp trước. Diệu của Phật pháp là diệu ở chỗ này, Phật pháp không giống với thế gian pháp là ở chỗ này. Thế gian pháp cho phép quý vị có chấp trước, đồng ý cho quý vị có nguyện tâm cầu mãnh liệt; Phật pháp thì không được. Phải cầu, thế nhưng không thể dính tướng, dính tướng chính là pháp thế gian, không dính tướng chính là Phật pháp. Phật pháp sai khác với thế gian pháp ở chỗ này, nhất định phải biết điều này.

         Sau khi chứng đắc Phật pháp, vẫn mặc áo như vậy, ăn cơm như vậy, không có rời khỏi thế gian pháp. Thế nhưng như thế nào? Không giống với người thế gian, người thế gian chấp trước, họ có phân biệt, có chấp trước. Người học Phật, tuy rằng mặc áo ăn cơm, thậm chí khi giao tiếp xã giao, họ không có phân biệt, không có chấp trước. Cao thêm một bậc, họ không khởi tâm không động niệm, đó là Phật và đại Bồ-tát, không những không có phân biệt chấp trước, mà cũng không có khởi tâm động niệm. Sự việc mà người thế gian làm, quý ngài cũng làm như vậy, nhưng quý ngài không tạo nghiệp. Bởi vì khởi tâm động niệm thì tạo nghiệp, mà quý ngài không có khởi tâm động niệm. Không tạo nghiệp là Phật pháp, chính là niệm Phật. Niệm Phật mà khởi tâm động niệm cũng là tạo nghiệp, thì vãng sanh Phàm-thánh-đồng-cư-độ ở Thế giới Tây phương Cực Lạc; nếu không khởi tâm động niệm, thì vãng sanh Thật-báo-trang-nghiêm-độ của Thế giới Cực Lạc, phải hiểu điều này; còn Phương-tiện-hữu-dư-độ thì có khởi tâm động niệm, có phân biệt, nhưng không có chấp trước. Những điều này đều phải làm rõ ràng, làm sáng tỏ.

         Cầu một câu Phật hiệu không gián đoạn, sau đó lại cầu không khởi tâm không động niệm, không phân biệt không chấp trước, điều này rất vi tế rất khó, chúng ta trước cầu không chấp trước. Thật sự không chấp trước rồi, lại nâng lên không phân biệt, sau cùng lại nâng lên không khởi tâm không động niệm. Không khởi tâm không động niệm thì sanh Thật-báo-trang-nghiêm-độ; Khởi tâm động niệm, có phân biệt, không chấp trước, thì sanh Phương-tiện-hữu-dư-độ; Nếu đều có đủ: khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, thì sanh Phàm-thánh-đồng-cư-độ. Thế giới Cực Lạc có Đồng-cư-độ, tuy có Đồng-cư-độ,  nhưng chỉ có hai đường người và trời, không có A-tu-la, không có ngạ-quỷ, địa-ngục, súc-sanh. Thế giới Cực Lạc là đồng cư Tịnh-độ, tuy gọi là đồng cư Tịnh-độ, nhưng không giống với nơi chúng ta đây, chúng ta đây là đồng cư của sáu đường; ở đó không có, chỉ có hai đường.

         Câu nói tiếp theo đây, quý vị xem, 求菩提之法“Cầu Bồ-đề chi pháp”(pháp để cầu Bồ-đề), đó là chấp pháp, họ vẫn là dính tướng, 作相“tác tướng”(là tác tướng), chính là dính tướng, chấp trước tướng. 自離於理體之實際“Tự ly ư lý thể chi thực tế”(tự xa lìa thật tế của Lý-thể). Dính tướng thì không tương ưng với tự-tánh, không tương ưng với Lý-thể. 故云不當理實“Cố vân bất đương lý thật”(Do vậy, mới nói: chẳng tương đương với thật-lý), nó không tương ưng với lý, với tự-tánh chân thật, với tự-tánh của chân thật. ‘Bất đương’ ở đây cũng chính là không tương ưng. 此人則遠離於菩提“Thử nhân tắc viễn ly ư Bồ-đề”(Thì người ấy xa cách với Bồ-đề). Câu nói này giải đáp rồi, người như vậy không tương ưng với Bồ-đề chân chánh. Cho nên nói họ cách xa Bồ-đề, cách xa đại Bồ-đề, Bồ-đề tâm chân thật. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

*Ghi chú:  thời cổ đại tính ‘triệu’ = 1 vạn ức = 1000 tỷ.

 ( Hết tập 311)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Chóng viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.