312 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014 – Phẩm 24 – HT Tịnh Không giảng

 

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4)

PHẨM 24: TAM BỐI VÃNG SANH (Ba Bậc Vãng Sanh)

Tập 312

Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Australia.

Thời gian: Ngày 25 tháng 2 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Thích Thiện Trang.

          Kính chào: chư vị Pháp sư, quý vị đồng học, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

A-xà-lê tồn niệm, ngã đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn.  (3 lần)

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 743, trang 743, đếm ngược đến hàng thứ sáu:

今謂行者雖知修行往求,了了識知理體無求,仍不壞假名,是故備修萬行,故能感也“Kim vị hành giả tuy tri tu hành vãng cầu, liễu liễu thức tri lý thể vô cầu, nhưng bất hoại giả danh, thị cố bị tu vạn hạnh, cố năng cảm dã”(Nay hành giả tuy biết tu hành cầu vãng sanh, hiểu rõ ràng Lý-thể là vô cầu, nhưng chẳng hoại giả danh, nên tu đủ vạn hạnh. Do đó, cảm được Bồ-đề). Phía trước Niệm Lão nói với chúng ta, đại đa số người tu hành ngày nay, hầu như là trên 90%, đối với việc tu hành thế nào, lý luận để y cứ tu hành, tâm thái tu hành, phương pháp tu hành, hiệu quả của tu hành, đều mơ hồ qua loa, không có một khái niệm rõ ràng. Nguyên nhân của vấn đề này, tôi tin rằng không ít đồng học đều có thể lý giải, nguyên nhân là tu hành không có chỗ dựa. Phật pháp rộng lớn không có bờ mé, vô lượng pháp môn, trong kinh thường nói 84 ngàn pháp môn, quý vị là dựa vào môn nào? Có người hiểu biết, không chỉ dựa theo một môn, họ có thể đồng thời dựa vào mấy môn như: Thiên-thai, Hiền-thủ, Tam-luận, Pháp-tướng, thậm chí đến Thiền, Mật, Tịnh-độ. Trung Hoa chia thành 10 tông lớn, trong mỗi một tông còn có phái, có nhánh, càng chia thì càng nhỏ. Ngay cả Tịnh-độ-tông cũng không ngoại lệ, Tịnh-độ-tông của Trung Hoa là một tông phái, nhưng truyền đến Nhật Bản trở thành mười mấy tông phái. Họ nói với tôi rằng đó đều là Tịnh-độ-tông. Kinh điển dựa vào và phương pháp tu học của mỗi một phái đều không hoàn toàn giống nhau, đều có y cứ. Thậm chí còn có một phái, chỉ dựa vào nguyện thứ mười tám trong 48 nguyện của Kinh Vô Lượng Thọ, gọi là Bổn-nguyện-tông, đều là từ thời nhà Đường, từ Trung Hoa truyền qua, thời đó du học sinh Nhật Bản rất nhiều. Đó là thời kỳ hoàng kim của Phật giáo Trung Hoa, mười tông phái đều có: cao nhân, Tổ sư Đại đức. Những du học sinh của Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đó đến Trung Hoa, họ rất dụng công, thật học được nhiều điều, sau khi trở về lại xây dựng rất nhiều tông phái, hơn một ngàn năm này có thành tựu, không phải không có thành tựu. Thế nhưng ngày nay không được rồi, ngày nay đại đa số là hữu danh vô thực, vì nguyên nhân gì? Chỉ biết đọc kinh, không cầu giải nghĩa, chưa đoạn được phiền não tập khí, cho nên đi lệch hướng, đi đường tà rồi. Có người niệm Phật, nhưng người vãng sanh thì hiếm hoi. Thật như lời thầy Lý đã nói: một vạn người niệm Phật, thật sự vãng sanh được chỉ ba đến năm người. Lời nói này ở 60 năm trước, đã cách nay hơn nửa thế kỷ rồi, nên hiện nay phải là một vạn người niệm Phật, mà vãng sanh được chỉ một, hai người thôi. Chỉ e rằng qua 60 năm sau nữa: một vạn người niệm Phật, có thể một người vãng sanh cũng không có; phải hai vạn, ba vạn người mới có được một, hai người. Vấn đề này là vấn đề lớn, không phải việc nhỏ.

Niệm Phật thực sự vãng sanh được, vậy mới gọi là cứu cánh viên mãn. Làm thế nào mới có thể phù hợp với điều kiện vãng sanh? Trong kinh này nói được rất hay: “Phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, thì được vãng sanh. Bổn nguyện niệm Phật chỉ chú trọng nhất hướng chuyên niệm, mà đã lơ là phát Bồ-đề tâm. Trong kinh nói rất rõ ràng, thế nào là Bồ-đề tâm? Trong Quán Kinh nói với chúng ta, thứ nhất: chí thành tâm, chân thành đến tột cùng. Hay nói cách khác, vãng sanh là việc lớn, phải dùng chân-tâm, không thể dùng vọng-tâm, vọng-tâm thì không tương ưng, nên phải dùng chân-tâm. Từ ba phương diện để nói chân-tâm: Thứ nhất từ trên thể mà nói, chính là tâm chân thành; thứ hai từ trên tướng mà nói, chính là thâm tâm; thứ ba từ trên tác dụng mà nói, chính là hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Khởi Tín Luận nói với chúng ta là đại bi tâm, nói cách khác, đại từ đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh khổ nạn, đó là tha thọ dụng của Bồ-đề tâm, còn thâm tâm là tự thọ dụng. Thâm tâm là ý nghĩa gì? Là tâm tin sâu, hướng về phương tây có Thế giới Cực Lạc, có A Di Đà Phật, tin sâu không nghi, không có chút nghi ngờ nào, đó là thâm tâm; còn phải có tâm cầu sanh Tịnh-độ, tâm ấy phải sâu. Tất cả đều làm từ trong tâm chân thật, không phải là dùng vọng-tâm. Từ câu nói này, câu này là tổng kết, đều nói được hết rồi: chúng ta thật sự muốn vãng sanh Thế giới Cực Lạc, làm đệ tử của A Di Đà Phật, thì từ nay trở đi phải dùng chân-tâm, không được dùng vọng-tâm, vì Bồ-đề tâm là chân-tâm, chân-tâm là Bồ-đề tâm.

Nhà Nho của Trung Hoa nói, trong sách Đại Học nói, đại biểu học thuật của Nho gia là Tứ Thư. Tứ Thư là bốn bộ sách hợp lại gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Bốn bộ sách này do Chu Phu Tử đời Tống đã hợp lại với nhau, gọi là Tứ Thư, là khái luận của nhà Nho, đại cương của Nho học. Đây là cốt yếu của Nho học có thể đại diện toàn bộ học thuật Nho gia. Sách Đại Học nói phương pháp, sách Trung Dung nói lý luận, y chiếu theo phương pháp, lý luận này để tu hành. Hành là hành vi, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động gọi là hành, tu là sửa đổi. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động của chúng ta sai rồi, sai ở chỗ nào? Là trái ngược với tự-tánh, nên đem nó sửa đổi lại, khiến quay về tự-tánh, vậy thì đúng rồi. Tự-tánh là gì? Là “Minh đức” là câu đầu tiên được nói trong sách Đại Học, nhà Nho nói ‘minh đức’. ‘Minh đức’ bị lạc mất rồi, bây giờ tìm nó trở về lại, cho nên phía trước thêm một chữ “minh”, thành “minh minh đức”. ‘Minh đức’ là danh từ, còn chữ ‘minh’ phía trước đó là động từ. ‘Minh đức’ thì tất cả chúng sanh đều có và bình đẳng cả. Không những con người có, mà chúng sanh hữu tình đều có. Thế nào gọi là hữu tình? Ngày nay chúng ta nói là động vật, tất cả chúng sanh có sinh mạng đều có. Chúng sanh vô tình cũng có, thế nào gọi là vô tình? Là thực vật, khoáng vật. Khoáng vật, lớn là núi sông, nhỏ là cát bụi, tất cả đều có, vả lại tự-tánh là một.

Khi khai ngộ Đại sư Huệ Năng nói “nào ngờ tự-tánh”, tự-tánh chính là bản-tánh, chính là ‘minh đức’, “năng sanh vạn pháp”, vạn pháp là chỉ toàn vũ trụ. Toàn thể của cả vũ trụ này từ đâu đến? Là do tự-tánh biến hiện ra. Tự-tánh chính là chân-tâm, tự-tánh chính là ‘minh đức’, do ‘minh đức’ biến hiện, do chân-tâm biến hiện. Cho nên chúng ta phải dùng chân-tâm, không thể dùng vọng-tâm, vì vọng-tâm là giả, vọng-tâm có sanh có diệt, còn chân-tâm không sanh không diệt. Đại sư Huệ Năng dùng năm câu nói để mô tả chân-tâm, bản thể của tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh đều là từ trong đó mà sanh ra. Ngài đã nói năm câu: câu thứ nhất “vốn tự thanh tịnh”; câu thứ hai “vốn không sanh diệt”; câu thứ ba “vốn tự đầy đủ”; câu thứ tư “vốn không giao động”, nó chưa từng động, tự-tánh vốn định; câu sau cùng là “năng sanh vạn pháp”, mười pháp giới y chánh trang nghiêm là do nó sanh ra, là do nó biến hiện ra. Phật pháp Đại-thừa nói: mười pháp giới là tâm hiện thức biến; lại nói với chúng ta: vô lượng vô biên bất khả tư nghì cõi nước chư Phật, vô lượng vô biên tất cả đều là do tự-tánh biến hiện ra, rời khỏi tự-tánh thì không có một pháp có thể đắc. Đó là chân tướng sự thật. Nói rõ một sự việc gì? Tất cả cõi nước chư Phật trong biến pháp giới hư không giới, vô lượng vô biên chư pháp, có quan hệ gì với chúng ta? Là một thể. Đạo gia nói “Trời đất cùng nguồn gốc với ta, vạn vật cùng một thân thể với ta”, cũng là nói sự việc đó. Tất cả pháp từ tự-tánh sanh, tất cả pháp đến cuối cùng vẫn hòa về tự-tánh, hoàn toàn trở về đến tự-tánh, thành Phật quả Vô Thượng, là thành Phật rồi, thành Phật mới rốt ráo. Bồ-tát là hướng đến mục tiêu này, nhưng vẫn chưa đạt được. Pháp-thân Bồ-tát thì đạt được rồi, nhưng vẫn chưa đạt được toàn bộ, chưa viên mãn, giống như ánh sáng mặt trăng vào ban đêm, ngày mùng ba, mùng bốn có ánh trăng, nhưng chưa viên mãn, dù là trăng thật, không phải giả, nhất định đến ngày 15 mới viên mãn, viên mãn là Phật, chưa viên mãn là Pháp-thân Bồ-tát. Không có nhìn thấy ánh trăng thực sự, nhìn thấy gần giống thôi, đó gọi là Quyền-giáo Bồ-tát. Như buổi tối chúng ta ở trên mặt hồ, nhìn thấy ánh trăng trong hồ nước, đó không phải là mặt trăng thật, đó là trăng giả, cho dù quý vị nhìn thấy là trăng khuyết hay là tròn đầy, đó đều là tương tự, trong nhà Phật gọi là Quyền-giáo Bồ-tát. Ngay cả đến Thanh-văn, Duyên-giác, thì vừa mới tiếp xúc được, vừa mới tiếp xúc đến, mới chạm được ở bờ rìa thôi.

Vì vậy bài học đầu tiên của Đại-thừa giáo, chính là dạy chúng ta nhận biết những gì là thật, những gì là giả. Biết ‘có’, biết ‘không’ đã nói ở trước. Đó là điều quan trọng nhất trong giáo lý Đại-thừa, biết ‘có’,  có là giả có, không phải thật có; ‘không’ cũng không phải thật sự không, ‘có’ ‘không’ đều là do chính chúng ta mê mất tự-tánh, mê mất chân-tâm, nên sanh ra ảo giác đó. Ảo giác đó không thể nói nó có, cũng không thể nói nó không, thì quý vị thật sự hiểu rồi, tại sao vậy? Cũng không được chấp trước, chấp trước thì sai rồi, không chấp trước thì không việc gì, thì đúng rồi. Nên khi hiện tướng đừng chấp trước nó có, khi không hiện tướng thì không được chấp trước nó không, tâm phải như thế nào? Tâm phải thanh tịnh. Tâm vốn thanh tịnh, thanh tịnh là không có ô nhiễm, biết rằng trong chân-tâm không có hiện tượng sanh diệt, cũng chính là không có niệm trước diệt niệm sau sanh, đó là hiện tượng của A-lại-da, là vọng-tâm, không phải chân-tâm. Không được chấp trước. ‘Không’, ‘có’ đều không được chấp trước. Vì vậy vạn pháp là một thể. Nói Phật, thì quý vị chấp trước có Phật, sai rồi; nói chúng sanh, thì quý vị chấp trước có chúng sanh, cũng sai rồi. Nói với quý vị đều không được chấp trước tất cả pháp, thì quý vị sẽ giác ngộ, quý vị sẽ đắc tam-muội, quý vị sẽ khai ngộ. Có phân biệt, có chấp trước, thì không làm được đến tam-muội và khai ngộ, quý vị sẽ không có phần; quý vị vĩnh viễn là một chúng sanh trong sáu đường luân hồi.

Luân hồi khổ không nói nên lời. Không cần nói sáu đường, chỉ nói chúng ta hiện nay, ngày nay chúng ta được thân người, là nhân đạo trong lục đạo, tôi hỏi quý vị, quý vị có vui vẻ không? Quý vị có hạnh phúc không? Tâm quý vị có an không? Quý vị có biết được chân tướng sự thật không? Tất cả đều không có. Đó là gì? Là chúng sanh khổ nạn. Chúng ta ở trong đời này chỉ có hai chữ: một là khổ, hai là nạn. Đó là sự thật. Quý vị nói hạnh phúc, quý vị nói tốt đẹp đầy đủ, đó là ảo tướng, giả tướng thôi. Ngày nay thế giới này, xác thực là quý mà không an, giàu mà không vui. Không an, tạo ác nghiệp, có sợ hãi; không vui, khổ. Đây là tình trạng hiện thực, mà hiện nay chúng ta cảm nhận được. Phật dạy chúng ta: ‘có’ là giả có, không thể đạt được; ‘không’ là chân không, cũng không đạt được. Chân không ở mọi nơi, ở mọi lúc, nó không có hiện tượng vật chất, cũng không có khởi tâm động niệm. Phật nói với chúng ta: trước mắt chỉ là hai tình trạng, một là giác, hai là mê. Giác chỉ có Đức Phật, tiếp cận rất gần với giác là Pháp-thân Đại-sĩ. Quyền-giáo trở xuống đều không giác, không giác có sai khác nhau mức sâu cạn mà thôi. Không có những khái niệm này, khái niệm này vẫn phải tương đối sâu, tại sao vậy? Quý vị trong cuộc sống hằng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc chưa từng mất đi giác chiếu, mới có tác dụng. Người niệm Phật cũng không ngoại lệ, người niệm Phật từ sáng đến tối suốt 24 giờ, niệm niệm trong tâm có A Di Đà Phật. Là giác! Nếu quên mất A Di Đà Phật thì đã mê, quên rồi. Làm sao đây? Nhanh chóng tìm trở lại, Phật hiệu tiếp tục không gián đoạn. Vì sao bị gián đoạn? Bởi tập khí, phiền não. Tập khí phiền não không phải một đời một kiếp, mà quá khứ vô thủy, vị lai vô chung, đời đời kiếp kiếp nuôi thành thói quen rồi. Thói quen này chính là tạp niệm, suy nghĩ lung tung, có những điều không nên nghĩ, cũng có những điều nên nghĩ. Tóm lại mà nói, điều không nên nghĩ chiếm đa số, còn điều nên nghĩ thì ít. Một ngày 24 giờ, nếu như có được một giờ nghĩ điều mà quý vị nên nghĩ, thì quý vị sẽ có thành tựu lớn, còn 23 giờ khác là vọng tưởng. Đó khởi tác dụng.

Còn như chư Phật Như Lai, hoàn toàn là chánh giác, không có vọng tưởng, một vọng tưởng cũng không có. Pháp-thân Bồ-tát có thể còn có vài tập khí vô thủy vô minh chưa đoạn, Pháp-thân Bồ-tát có 41 cấp bậc. 41 cấp bậc này chính là nói phiền não tập khí của quý ngài nặng nhẹ không giống nhau, địa vị càng cao càng nhẹ, địa vị càng thấp thì phiền não tập khí càng nặng, nhưng quý ngài ngoại trừ còn tập khí ra, những thứ khác thật buông xuống rồi. Cho nên quý ngài trụ ở nhất-chân pháp-giới, quý ngài không trụ mười pháp-giới, mà trụ nhất-chân pháp-giới. Ở Thế giới Cực Lạc là nhất-chân pháp-giới, Thế giới Hoa Tạng cũng là nhất-chân thế-giới, Tịnh-độ Mật Nghiêm của Mật-tông cũng là nơi tu hành của Pháp-thân Bồ-tát, tuy tên gọi không giống nhau, nhưng trên thực tế là không khác nhau. Những nguyên lý nguyên tắc này chúng ta phải biết, phải có nhận thức sâu sắc, nhận thức nông cạn thì không có tác dụng, có tin sâu thì có nhận biết sâu sắc.

Trong Bồ-đề tâm ở trên nói thâm tâm, phía trước là giác, giác phải hiệu quả, phải thâm tâm, thâm tín tâm, giác phải sâu không phải giác nông cạn. Tiếp theo là đại từ đại bi, đó là gì? Tâm độ chúng sanh. Giúp đỡ chúng sanh trong mười pháp giới, trong cõi nước chư Phật, rất nhiều chúng sanh trong lục đạo, mười pháp giới bị mê hoặc điên đảo chưa có giác ngộ, phải giúp đỡ họ, giúp đỡ họ lìa khổ được vui, toàn bộ tất cả Phật pháp chính là vì điều này. Pháp môn vô lượng vô biên khởi tác dụng gì? Đều là giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ, phá mê rồi, thì rời khỏi khổ; giác ngộ rồi, thì vui hiện tiền. Vì thế giáo dục của Phật-đà là vì điều gì? Tông chỉ là gì? Mục tiêu là gì? Là lìa khổ được vui, đó là giáo dục Phật-đà. Mục đích của giáo dục Thánh Hiền Nho gia là gì? Giống như điều Phật nói, câu đầu tiên trong Luận Ngữ đã nói rõ, “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”, duyệt là vui vẻ, họ được vui, lìa khổ được vui, hoàn toàn giống với Phật Pháp đã nói. Tâm đại bi giúp chúng sanh lìa khổ, tâm từ giúp chúng sanh được vui. Quý vị xem xét, giáo dục Thánh Hiền và giáo dục của Phật Bồ-tát hoàn toàn tương đồng. Chúng ta có cần nền giáo dục đó không? Đương nhiên quý vị biết rồi, thì quý vị thật mong muốn. Nếu quý vị không biết, hoặc biết không rõ ràng, vẫn có nghi ngờ, thì không sanh khởi được thâm tâm này; thật sự làm rõ ràng, làm cho sáng tỏ rồi, thì sanh sẽ khởi thâm tâm thôi.

Phật có phương pháp, việc dạy học của Thích Ca Mâu Ni Phật có mức độ, không như nhau. Phật chia làm năm cấp bậc, đẳng cấp. Cấp một là A Hàm 12 năm, như Tiểu học, là giáo dục cắm rễ; sau đó nâng lên thêm, 8 năm giảng Phương Đẳng, ví như là Trung học, Trung học là gì? Ở trước đã học, dựa vào nền tảng A Hàm ở trước để nâng lên trên, nâng lên tiếp cận với Đại học, Phương Đẳng là Trung học; Bát Nhã là Đại học, Bát Nhã giảng 22 năm. Phật Pháp là Bát Nhã, Bát Nhã phiên dịch thành Trung Văn là trí huệ. Phật Pháp là trí huệ tối cao, sao lại là mê tín chứ? Nói mê tín thì chẳng phải sai lầm rồi sao? Ngày nay giới học thuật cho rằng Phật Pháp là mê tín, cho nên rất nhiều người sinh ra hiểu lầm, lơ là với Phật pháp rồi. Lúc trẻ tôi cũng như vậy, trước năm 26 tuổi, cho rằng tôn giáo đều là mê tín, may mà chưa liệt Nho gia vào tôn giáo, cho nên vẫn xem được chút đỉnh sách Nho, còn sách của tôn giáo khác chưa từng xem qua, cũng không có nghe đến, không muốn tiếp xúc. Thầy Phương Đông Mỹ đã cứu tôi, đó là duyên phận chín muồi, tôi học Triết học với thầy, thầy giới thiệu Phật giáo cho tôi, nói với tôi: “Thích Ca Mâu Ni là nhà Triết học vĩ đại nhất trên thế giới”, thầy nói chúng ta học Triết học, phải nên tiếp cận Triết học gia, Phật là Triết học gia vĩ đại nhất; “Triết học kinh Phật là đỉnh cao nhất của Triết học toàn thế giới, học Phật là sự hưởng thụ tối cao của đời người”. Tôi vào cửa Phật là như vậy đó.

Vào cửa Phật rất hiếm có, thầy giáo mà tôi tiếp xúc được là Đại sư Chương Gia. Thầy đã dạy tôi: con muốn học Phật, trước hết phải nhận biết Thích Ca Mâu Ni Phật, nếu con không nhận biết Phật, thì con sẽ đi rất nhiều đường vòng, cũng có khả năng đi vào đường tà. Ngài bảo tôi đọc sách Thích Ca Phổ, Thích Ca Phương Chí, chính là truyện ký của Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi đọc xong chúng tôi mới biết rằng, Thích Ca Mâu Ni Phật là nhà giáo dục, cả đời tu học, học điều gì? Thật sự là học Triết học tối cao. Ngày nay nói không những là Triết học tối cao, mà là khoa học tối cao. Khoa học, Triết học lên tới tuyệt đỉnh, chính là Phật học, quá cực diệu. Mục tiêu của học Phật là ở kiến tánh, minh tâm kiến tánh, là con đường đó. Chứ không phải tri thức, mà là trí huệ. Trí huệ là trong tự-tánh vốn có, không phải đến từ bên ngoài, đến từ bên ngoài thì không có trí huệ. Tri thức thì hướng ngoại cầu, trí huệ thì hướng nội cầu, không thể cầu ở bên ngoài, hướng ra ngoài cầu không được, nhất định phải hướng vào trong mà cầu. Nhưng ngày nay, người thông thường không thể lý giải loại ngôn luận này, họ sẽ không tán thành, mà phản đối quý vị. Thế thì tìm người nào? Người thật sự có duyên, Phật pháp chúng ta nói là người tái lai, trong đời quá khứ vô lượng kiếp đến nay, tu học đã tích lũy công đức trí huệ, đời này đến nhân gian lại gặp được Phật pháp, phải tìm người như vậy. Tại sao vậy? Vì người như vậy họ tin được, họ không hoài nghi, họ thật làm, họ thật thành tựu.

Căn tánh lợi hại nhất, không gì sánh được, là tin tưởng Tịnh-độ-tông. Vì đây là một môn đại trí huệ, rất nhiều rất nhiều đại Bồ-tát, Tam-hiền, đại Bồ-tát cũng không bằng, quý ngài vẫn phải tu vô lượng kiếp; còn người thiện căn sâu dày này thì một đời viên mãn, một đời thành Phật rồi. Mấy người tin tưởng Tịnh-tông? Tôi ngay trong đời này, tôi nhìn thấy không hơn 10 người, họ thật làm, thật sự y giáo phụng hành, tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh-độ, thật làm. Không phải trí huệ chân thật, không phải đại trí huệ thì làm không được. Chúng ta không thể không biết điều này. Tại sao vậy? Vì họ thật có Bồ-đề tâm, họ dùng chân-tâm, sinh hoạt dùng chân-tâm, làm việc dùng chân-tâm, tiếp người đối vật dùng chân-tâm. Thế nào là chân-tâm? Là tâm chân thành. Thế nào là tâm chân thành? Trong sách Đại Học có một câu nói giải thích chữ ‘thành’, ‘thành’ là ý nghĩa gì? Không dối mình. Quay lại suy xét xem chúng ta, chúng ta thường hay lừa gạt chính mình, nói gạt chính mình thôi cũng không đếm hết. Như chính mình nói: tôi muốn tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh-độ. Mà trong tín có hoài nghi, không thể tin tưởng hoàn toàn, trong nguyện thì không xả ly được thế giới Ta Bà, vẫn tham luyến thân thể này, hoặc vẫn là hy vọng học nhiều Pháp môn hơn một chút, đó đều là lừa gạt chính mình, không lão thật, không thành thật.

Lão Hòa thượng Hải Hiền chỉ một câu Phật hiệu, một đời không có xem qua một quyển sách, không biết chữ, không có đọc qua một bộ kinh; không có nghe qua một lần diễn giảng. Chúng ta nói lên lớp, lên giảng đường, thì chưa nghe qua một lần, ngài chỉ một câu A Di Đà Phật lão lão thật thật niệm đến cùng. Làm việc cũng niệm Phật, không trở ngại công việc. Công việc của ngài là làm nông, trồng trọt, việc này là dùng sức lực, lao động chân tay, không phải lao động trí óc. Lao động chân tay, cho nên không trở ngại niệm Phật. Ngài là tấm gương tốt nhất cho người niệm Phật chúng ta, một câu Phật hiệu niệm đến công phu thành phiến, niệm đến sự nhất tâm bất loạn, niệm đến lý nhất tâm bất loạn. Lý nhất tâm bất loạn chính là Pháp-thân Bồ-tát, vì vậy ngài vãng sanh Thế giới Cực Lạc sanh vào Thật-báo-trang-nghiêm-độ, ngài không ở cõi Phương-tiện, cõi Đồng-cư. Cả đời ngài thật sự là đại từ đại bi, nhìn thấy người khác khổ nạn, nghe nói được, thì chủ động đi giúp đỡ. Ngài trồng trọt, cho nên có nhiều lương thực, trồng rất nhiều cây ăn trái, rau quả, đem tặng số lượng lớn cho những người cần thiết. Những người vùng ven đang bị đói, thì ngài cứu họ, nên người địa phương gọi ngài là đại thiện nhân. Chúng ta biết đó là hạnh Bồ-tát, bố thí, nhẫn nhục, thiền định, tinh tấn trong lục-độ. Canh tác hơn 90 năm, đó là làm gì? Tu thiền định. Ngài không có nghĩ rằng tự tìm sự nghiệp khác nhẹ nhàng hơn để làm. Đến già, quý vị thấy đến ngày ra đi, ngày ra đi đó ban ngày vẫn làm trọn một ngày: làm đất, tưới nước, nhổ cỏ trong vườn rau, vẫn làm cả ngày, làm đến khi trời tối, đêm đó thì vãng sanh. Thật sự là một ngày không làm thì một ngày không ăn, làm tấm gương tốt như vậy cho chúng ta xem. Buổi tối ngày ra đi đó, ngài niệm Phật, ở trong phòng ngủ của mình niệm Phật, sáng sớm ngày hôm sau người ta đẩy cửa vào, thì thấy ngài đi rồi. Đó là tấm gương tốt cho chúng ta.

Chúng ta cần phải đem Bồ-đề tâm thực hiện trong cuộc sống, chính là dùng chân-tâm không dùng vọng-tâm. Trong xã hội ngày nay, người ta đều lừa gạt chúng ta, đối với chúng ta đều là giả dối, mà chúng ta dùng chân-tâm há không phải là chịu thiệt rồi sao? Đúng hay không? Không sai, chịu thiệt trước mắt, qua vài năm thì không còn chịu thiệt nữa. Tại sao vậy? Vì qua thêm vài năm, thì quý vị đến Thế giới Cực Lạc rồi. Còn họ thì sao? Họ lại đi vào sáu đường luân hồi nữa, tạo lục đạo luân hồi, thì chắc chắn cơ hội ở ba đường ác nhiều, cơ hội ở ba đường thiện ít. Quý vị mới hiểu được người dùng chân-tâm được lợi ích lớn rồi, quý vị có muốn hay không? Không thể không làm rõ ràng điều này. Cho nên cho dù hiện nay người ta hủy báng ta, sỉ nhục ta, ức hiếp ta, hãm hại ta, tất cả đều là việc tốt. Tại sao là việc tốt? Đối với chính mình mà nói, tôi không để trong tâm những việc ấy, đó chính là không bị hoàn cảnh quấy nhiễu. Đó là gì? Đó là nhẫn-nhục ba-la-mật, thành tựu nhẫn-nhục ba-la-mật cho quý vị. Không có những người ấy đến gây phiền phức, thì làm sao biết quý vị nhẫn-nhục được, quý vị nhẫn-nhục đạt đến mức độ nào, thì ở đây thấy được rồi.

Lão Hòa thượng Hư Vân khi hơn 100 tuổi, vào lúc Đại Cách Mạng Văn Hóa, ngài bị một nhóm người đánh, đánh rất nặng, bỏ ngài trong một cái bao rồi tay đấm chân đá, khiến gẫy mấy cái xương sườn, muốn đánh chết ngài. May mà ngài chưa chết, được người ta cứu sống, đến sau này mới biết bị gẫy mấy cái xương sườn, nhưng không có phẫu thuật, dùng Đông y thì khôi phục rồi. Lão Hòa thượng không có oán hận, mà nhẫn-nhục ba-la-mật, chính ngài nhẫn-nhục đã đến trình độ cao rồi. Không phải phàm phu có thể nhẫn được, cũng không phải người trời có thể nhẫn được, là nhẫn-nhục của Phật Bồ-tát, nhẫn-nhục của tiên nhân, không khác gì với Nhẫn Nhục Tiên nhân bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể. Ngày nay chúng ta bị một chút khổ nạn đã chịu không nổi rồi, đã oán trời trách người, vậy có được không? Vậy làm sao có thể thành tựu? Ít nhất chúng ta cũng phải học lão Hòa Thượng Hư Vân, nâng cao lên hơn một chút nữa chính là Nhẫn Nhục Tiên nhân. Tại sao có thể nhẫn? Vì biết những người đó, người đến sát hại là hiểu lầm, không biết chân tướng sự thật, là mê hoặc điên đảo. Nếu họ thật sự biết được lão Hòa thượng Hư Vân là người tốt, không phải người xấu, thì họ đã không vậy rồi. Bởi hiểu lầm, cho rằng ngài là người ác, là địa chủ, là ác bá, dùng Phật giáo để lừa gạt chúng sanh lương thiện, họ nghĩ như vậy, cho nên muốn đưa ngài đến chỗ chết. Thật ra không phải vậy, người ta cúng dường ngài, từng ly từng tý tiền cúng dường đó, vì ngài là một người thật sự có tu hành, người có đức hạnh, đó là trồng phước, là gieo phước điền. Làm sao có thể trồng phước điền, thực sự trồng phước điền được? Nói ngài là lừa gạt lão bá tánh, nói ngài là mê tín, nói ngài là lừa gạt chúng sanh. Đây là hiểu lầm rất lớn, hiểu lầm rất nghiêm trọng. Đối với người sáng tỏ, lão Hòa thượng là người sáng tỏ, cho nên trong tâm ngài không có chút oán hận nào, chư vị có đánh chết ngài, ngài cũng sẽ không có oán hận chư vị. Nếu ngài oán hận chư vị, ngài không thể vãng sanh, ngài không oán hận chư vị, nên ngài đã vãng sanh vào nội viện Đâu Suất, Bồ-tát Di Lặc đã tiếp đón ngài đi. Đó là sự thật, đó là đạo lý, lý và sự đều phải hiểu được, đều phải rõ ràng.

Nếu như có tâm để cầu thì là sai rồi, chúng ta có tâm để cầu Bồ-đề. Ở đây chủ yếu nói câu này, pháp của cầu Bồ-đề, quả của cầu Bồ-đề, đây đều là pháp chấp, là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Quý vị đã rơi vào trong đó, vậy thì sai rồi. Đoạn tiếp theo nói, 今謂行者雖知修行往求“Kim vị hành giả tuy tri tu hành vãng cầu”(Nay hành giả tuy biết tu hành cầu vãng sanh), có cần cầu Phật pháp hay không? Cần cầu, phải thân cận thầy tốt, thiện tri thức chân chánh, phải cầu pháp với họ. Thế nhưng, câu này quan trọng, “liễu liễu”, liễu liễu là hiểu rất rõ, nhận biết, biết được “lý thể vô cầu”, trên bản-thể tự-tánh không có cầu, nó không tương ưng với bản-thể. Cho nên làm thế nào? 仍不壞假名“Nhưng bất hoại giả danh”(nhưng chẳng hoại giả danh), giả danh giả tướng, biết nó là giả, nhưng chúng ta vẫn dùng những giả danh giả tướng đó để tu đại Bồ-đề tâm, vậy thì đúng rồi. 是故備修萬行,故能感也“Thị cố bị tu vạn hạnh, cố năng cảm dã”(nên tu đủ vạn hạnh. Do đó, cảm được Bồ-đề), cảm ứng đạo giao, chư Phật Bồ-tát hiện thân, hiện hóa-thân để giúp đỡ quý vị. Lão Hòa thượng Hư Vân năm 47 tuổi chiêm bái Ngũ Đài sơn, đem công đức chiêm bái hồi hướng cho cha mẹ. Ngài tam bộ nhất bái, từ Phổ Đà bái đến Ngũ Đài, ba năm mới đến nơi. Trong hành trình có hai lần bị bệnh, đều ở nơi hoang vắng, ở trong núi sâu, không có người, ngã bệnh rồi, cảm được Bồ-tát Văn Thù hóa-thân đến, Bồ-tát Văn Thù biến hóa thành một ăn xin, ăn xin thì nơi cư trú không cố định, ăn xin khắp nơi, dùng thân phận như vậy đến cứu ngài. Hai lần đều là người ăn xin đó cứu ngài, người ăn xin ra ngoài ăn xin để nuôi ngài, tìm một ít thảo dược, sắc một ít thảo dược để trị bệnh cho ngài. Sau khi đến Ngũ Đài sơn mới biết, đó là Bồ-tát Văn Thù hóa-thân. Quý vị có chân-tâm có thể cảm, thì Phật Bồ-tát có ứng, cảm ứng đạo giao, tơ hào không sai. Sự việc này không phải là gạt người, chúng ta có thể cảm, thì Bồ tát có thể ứng.

是故《大智度論》云:若人見般若,是則為被縛“Thị cố Đại Trí Độ Luận vân: nhược nhân kiến Bát-nhã, thị tắc vi bị phược”(Vì vậy, Đại Trí Ðộ Luận bảo: Nếu ai thấy Bát-nhã là bị trói buộc), bị trói buộc chặt rồi. Một người nói anh ta thấy Bát-nhã rồi, thì người đó đã thấy hay chưa? Chưa thấy. Bát-nhã không có hiện tượng, làm sao quý vị thấy được? Nó không phải hiện tượng vật chất, nên mắt thấy không được; nó không phải hiện tượng tâm lý, nên ý-thức thứ sáu nghĩ không được, vì thế quý vị bị phiền não trói buộc chặt rồi. Bát-nhã là giả danh, là một danh từ, mà quý vị lại cho rằng một thứ có thật. Phật nói với chúng ta Bát-nhã có hay không? Thật có. Bát-nhã là phạn ngữ, dịch thành ý nghĩa Trung Hoa là trí huệ. Trí huệ ở đâu? Ở trong tự-tánh. Đại sư Huệ Năng nói: “Nào ngờ tự-tánh, vốn tự đầy đủ”. Đầy đủ điều gì? Đầy đủ vô lượng trí huệ, chính là Bát-nhã, đầy đủ vô lượng đức năng, đầy đủ vô lượng tướng hảo. Nói cách khác, vốn tự đầy đủ, viên mãn đầy đủ ở nơi đâu? Chính là Thế giới Cực Lạc. Quý vị đến Thế giới Cực Lạc, thì quý vị thấy được vốn tự đầy đủ, là do trong tự-tánh Bát-nhã biến hiện ra, không phải đến từ bên ngoài, bên ngoài không có pháp. Cho nên giáo lý Đại-thừa thường nói: “Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không tâm”, bởi pháp là do tâm hiện, do thức biến. Ở Thế giới Cực Lạc, sáu căn của quý vị tiếp xúc với cảnh giới toàn là Bát-nhã, không có điều gì không phải là Bát-nhã, chính là trên kinh nói vô phi Bát-nhã, không có điều gì mà là không phải. Ở trong cõi nước chư Phật, nếu quý vị nói quý vị thấy Bát-nhã, người ta nghe rồi sẽ cười, vì biết rằng kiến thức quý vị nông cạn, quý vị vẫn chưa nhập môn, quý vị vẫn bị trói buộc. Trói buộc là phiền não, quý vị bị phiền não trói buộc, quý vị lầm tưởng cho rằng quý vị thấy Bát-nhã, đã đọc mấy bộ kinh Bát-nhã, thì cho rằng quý vị thấy Bát-nhã, vậy sai rồi.

若不見般若,是亦為被縛“Nhược bất kiến Bát-nhã, thị diệc vi bị phược”(Nếu chẳng thấy Bát-nhã, thì cũng là bị trói buộc). Quý vị nói chưa thấy Bát-nhã, cũng là bị phiền não trói buộc chặt rồi. 若人見般若,是則為解脫。若不見般若,是亦為解脫“Nhược nhân kiến Bátnhã, thị tắc vi giải thoát. Nhược bất kiến Bát-nhã, thị diệc vi giải thoát”(Nếu ai thấy Bát-nhã, thì tức là giải thoát. Nếu chẳng thấy Bát-nhã thì cũng là giải thoát). Một người khác anh ta không thấy Bát-nhã, tu Bát-nhã mà không thấy Bát-nhã, thì thấy được thể rồi. Anh ta nói thấy, anh ta nói không thấy đều là Bát-nhã ba-la-mật thật sự hiện tiền rồi, nói kiểu gì đều đúng, tại sao vậy? Vì không dính tướng. Ghi nhớ tổng nguyên tắc, sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, mắt thấy được rõ ràng, tai nghe được rõ ràng, mũi ngửi được rõ ràng, thân cảm giác được rõ ràng, mà không có khởi tâm, không có động niệm, không có phân biệt, không có chấp trước, đó gọi là chân giải thoát, đó gọi là thật thấy Bát-nhã. Nếu như có ý nghĩ thấy Bát-nhã đó, có ý nghĩ giải thoát đó, thì đều là không có thấy, đều không phải là thật, quý vị vẫn chưa vào cửa, quý vị vẫn chưa thấy được. Người thấy được nói thấy, nói không thấy, đều là như nhau; người không thấy được nói thấy, nói không thấy, mà thật sự chưa thấy được.

Tiếp theo là lời giải thích của Bồ-tát Long Thọ: 是中不離四句者為縛,離四句者為解。今祈(求也)菩提但能如此修行,即是不行而行;不行而行者,不違二諦大道理也“Thị trung bất ly tứ cú giả vi phược, ly tứ cú giả vi giải. Kim kỳ (cầu dã) Bồ-đề đản năng như thử tu hành, tức thị bất hành nhi hành; bất hành nhi hành giả, bất vi nhị đế đại đạo lý dã”(Ở trong ấy mà không lìa được tứ cú thì bị trói buộc; lìa tứ cú thì được giải thoát. Nay muốn cầu Bồ-đề thì chỉ nên tu hành như thế, ấy chính là không hành mà hành. không hành mà hành, là chẳng trái nghịch với đại đạo lý Nhị-đế). Tiếp theo đây có một giải thích, điều gì gọi là 不行而行,即無求而求“bất hành nhi hành, tức vô cầu nhi cầu”(Không hành mà hành, chính là không cầu mà cầu), cầu mà không cầu. 雖知理體無求,菩提無得,仍備修萬行,以感菩提,妙契中道,故能相感而相契也“Tuy tri lý thể vô cầu, Bồ-đề vô đắc, nhưng bị tu vạn hạnh, dĩ cảm Bồ-đề, diệu khế trung-đạo, cố năng tương cảm nhi tương khế dã”(Tuy biết Lý-thể là vô cầu, Bồ-đề chẳng thể đắc, nhưng vẫn tu đủ vạn hạnh để cảm Bồ-đề, khéo khế hợp với trung-đạo, nên cảm được tương ứng và khế hợp). Đó là đem ý nghĩa chân thật nói rõ ra rồi. Vậy ngày nay chúng ta quay lại thì muốn hỏi rằng: người niệm Phật chúng ta muốn cầu sanh Tịnh-độ, là dùng tâm có cầu để cầu, hay là dùng tâm vô cầu để cầu? Dùng tâm có tâm để cầu, thì dính tướng rồi, dùng tâm không tâm để cầu cũng là dính tướng luôn, quý vị làm sao đây? Nếu không làm rõ ràng chỗ này, thì tu niệm Phật mà không thể vãng sanh, tổn thất quá lớn rồi. Chúng ta dùng tâm nào? Chúng ta dùng tâm có tướng. Thì vãng sanh được hay không? Vãng sanh được. Tại sao vậy? Vì pháp môn này gọi là đới nghiệp vãng sanh, chúng ta có thể mang theo tâm hư vọng có cầu này của chúng ta vãng sanh Thế giới Cực Lạc, đến Thế giới Cực Lạc thì chuyển biến, tâm vọng này biến thành chân rồi, là chuyển biến ở Thế giới Cực Lạc, không phải chuyển biến ở thế giới chúng ta đây. Cho nên Pháp môn này gọi là dị hành đạo, chính là ở chỗ này. Quý vị dùng có tướng để cầu, tu 84 ngàn pháp môn khác vào không được, vì có chướng ngại; Vô tướng thì sao? Chấp trước vô tướng, cũng vào không được. Nhất định phải đem chấp trước buông xuống, có tướng, vô tướng đều không quan trọng, đừng để ý đến nó, vậy thì đúng rồi.

Cho nên tiếp theo, 次者,《安樂集》依《淨土論》“thứ giả, An Lạc Tập y Tịnh Độ Luận”(Tiếp đó, sách An Lạc Tập dựa vào Tịnh Ðộ Luận), An Lạc Tập là của Pháp sư Đạo Xước, Tịnh Độ Luận chính là Vãng Sanh Luận, của Bồ-tát Thiên Thân, 指出,凡欲發心會無上菩提者,先須遠離三種與菩提門相違法“Chỉ xuất, phàm dục phát tâm hội vô thượng Bồ-đề giả, tiên tu viễn ly tam chủng dữ Bồ-đề môn tương vi pháp”(Chỉ ra rằng: Hễ ai muốn phát được tâm Vô Thượng Bồ-đề, thì trước hết phải xa lìa ba pháp trái nghịch với cửa Bồ-đề). Đoạn này hay, trong sách An Lạc Tập nói: 一者,依智慧門,不求自樂,遠離我心貪著自身故“Nhất giả, y trí huệ môn, bất cầu tự lạc, viễn ly ngã tâm tham trước tự thân cố”(Một là nương vào cửa trí huệ, chẳng cầu tự vui, nên xa lìa được ngã tâm tham chấp thân mình). Chúng ta đọc đoạn tiếp theo, để giải thích lại sau. 二者,依慈悲門,拔一切眾生苦,遠離無安眾生心故。三者,依方便門,憐愍一切眾生心,遠離恭敬供養自身心故。是名遠離三種菩提門相違法“Nhị giả, y từ bi môn, bạt nhất thiết chúng sanh khổ, viễn ly vô an chúng sanh tâm cố. Tam giả, y phương tiện môn, lân mẫn nhất thiết chúng sanh tâm, viễn ly cung kính cúng dường tự thân tâm cố. Thị danh viễn ly tam chủng Bồ-đề môn tương vi pháp”(Hai là nương vào cửa từ bi, dứt trừ tất cả khổ cho chúng sanh, nên xa lìa được không an lạc tâm chúng sanh. Ba là nương vào cửa phương tiện, tâm thương xót tất cả chúng sanh, nên xa lìa được tâm cung kính cúng dường thân mình. Ðó gọi là xa lìa ba pháp trái nghịch với cửa Bồ-đề). Tiếp theo giải thích, 釋曰:三種相違之法,即文中:一、我心貪著自身。二、無安眾生心。三、恭敬供養自身心。此三者必須遠離也“Thích viết: Tam chủng tương vi chi pháp, tức văn trung: Nhất, ngã tâm tham trước tự thân. Nhị, vô an chúng sanh tâm. Tam, cung kính cúng dường tự thân tâm. Thử tam giả tất tu viễn ly dã(Giải thích rằng: Ba pháp trái nghịch được nói trong luận đó là: Một là “ngã tâm tham chấp thân mình”, hai là “tâm không an lạc chúng sanh”, ba là “tâm cung kính cúng dường thân mình”. Cần phải xa lìa ba tâm đó).

Đoạn này rất quan trọng. Người niệm Phật chúng ta, muốn thành tựu ngay trong đời này, thì đây là ba chướng ngại lớn. Thứ nhất, tham chấp thân mình. Ai không tham? Ai có tâm nguyện như vầy: bất cứ lúc nào tôi cũng có thể xả thân này để cầu sanh Tịnh-độ? Tôi có thể làm được hay không? Điều này rất quan trọng. Thứ hai, tôi có thể dùng phương tiện thiện xảo để an tâm của chúng sanh hay không? Hiện nay trái đất cần cấp bách, thường thường chúng ta nghe nói quý mà không an, giàu mà không vui, hai câu nói này gắn liền nhau, hiện nay người đại phú đại quý của thế giới này, họ không an, họ không vui. Tại sao không an không vui? Nguyên nhân căn bản là ở tham chấp thân mình, họ hy vọng sống ở thế gian này thêm nhiều năm nữa, tâm nguyện của họ: là thời gian càng dài càng tốt. Đối với người tu hành mà nói, sống ở thế gian này, thời gian càng dài càng cực khổ. Nếu như là Bồ-tát, thì quý ngài không sao cả, tại sao vậy? Vì tâm quý ngài thanh tịnh, quý ngài không bị nhiễm, cho dù thế gian này xảy ra sự việc gì, quý ngài cũng không để trong tâm. Trong tâm quý ngài vô sự, thanh tịnh, không chịu sự quấy nhiễu của tất cả pháp trên thế gian này. Cho nên tâm của quý ngài là mát mẻ tự tại, bất kỳ lúc nào cũng có thể vãng sanh, bất kỳ lúc nào cũng có thể sống ở thế gian này, có duyên thì sống thêm mấy năm, không có duyên thì quý ngài ra đi thôi.

Thế nào gọi là có duyên? Lão Hòa thượng Hải Hiền là A Di Đà Phật chỉ thị cho ngài, bảo ngài ở thêm vài năm nữa. Cho nên 112 tuổi vốn không phải là tuổi thọ của ngài, vốn tuổi thọ của ngài tôi cho rằng lẽ ra xấp xỉ với mẫu thân và sư huynh đệ của ngài, vốn là bảy, tám mươi tuổi; bảy, tám mươi tuổi, vậy là bình thường, phần sau kéo dài đến 112 tuổi, đó là do A Di Đà Phật cho ngài. Cho ngài để làm gì? Vì giao ngài nhiệm vụ để ngài biểu pháp, biểu pháp chính là làm tấm gương, làm tấm gương tốt cho đệ tử nhà Phật, làm tấm gương tốt cho đệ tử Tịnh-tông, ngài đã làm được rồi. Nhiệm vụ này hoàn thành thì Phật đến tiếp dẫn ngài, khi nào hoàn thành? Chính là khi ngài nhìn thấy quyển sách Nếu Muốn Phật Pháp Hưng, Chỉ Có Tăng Tán Thán Tăng, nhìn thấy quyển sách ấy thì nhiệm vụ của ngài đã viên mãn rồi. Sau cùng ngài thấy quyển sách ấy vào năm 2013. Năm 2013 có vị Cư sĩ, cũng là đệ tử quy y với lão Hòa thượng, mang quyển sách đó lên núi, ngài nhìn thấy rồi. Đây là sự việc rất không thể nghĩ bàn, tại sao vậy? Bởi vì lão Hòa thượng không biết chữ, chưa từng đi học, làm sao có thể mang sách cho ngài được? Đấy là việc không cách nào tưởng tượng được. Ngài nhìn thấy có người mang theo một quyển sách, thì hỏi anh ta: quyển sách này tên là gì? Mọi người nói với ngài, quyển sách này gọi là Nếu Muốn Phật Pháp Hưng, Chỉ Có Tăng Tán Thán Tăng. Lão Hòa thượng vừa nghe thì vui mừng vô cùng, nhanh chóng về đến liêu phòng, lấy chiếc cà-sa ngài yêu thích nhất, là cà-sa màu đỏ mặc vào, nhờ người có máy ảnh chụp cho ngài một tấm ảnh. Cử chỉ này, cả đời lão Hòa thượng, trước đây không có tiền lệ, chưa từng có, lão Hòa thượng là vì người ta tìm ngài chụp ảnh, ngài là bị động, thỉnh mời ngài thì ngài không từ chối; còn chủ động muốn người ta chụp ảnh thì chưa từng có, đây là lần đầu tiên. Không ngờ rằng, sau khi chụp tấm ảnh này xong, ba ngày sau thì ngài đi rồi.

Ngài đến biểu pháp ấy, tổng kết Phật pháp ở thế gian cho chúng ta: thứ nhất, pháp mà do Thích Ca Mâu Ni Phật truyền, là thật không phải giả, giống với tất cả chư Phật, không có sai biệt; thứ hai, vì chúng ta chứng minh Thế giới Tây Phương Cực Lạc thật có, A Di Đà Phật thật có, tại sao vậy? Ngài đã tận mắt thấy qua, ngài đã từng thấy A Di Đà Phật, ngài đã từng thấy Thế giới Cực Lạc, vả lại không chỉ một lần, tôi ước đoán ít nhất cũng trên mười lần, trong 92 năm. Đại sư Huệ Viễn sơ tổ Tịnh-độ-tông chúng ta ở Lư sơn, khi ngài còn ở thế gian, cả đời nhìn thấy Thế giới Cực Lạc, thấy được A Di Đà Phật chỉ bốn lần, lúc ngài Huệ Viễn ra đi là 70 tuổi. Quý vị xem ngài niệm Phật từ 20 tuổi, đến 112 tuổi, là 92 năm, ít nhất thấy qua trên 10 lần, chứng minh cho chúng ta đó không phải là giả, và còn chứng minh một câu Phật hiệu này niệm đến cùng, niệm đến công phu thành phiến thì có thể vãng sanh. Ngài là đã thăng cấp, bởi vì ngài có lời dặn dò của A Di Đà Phật, muốn ngài làm biểu pháp, nên chưa dẫn ngài vãng sanh.

Đó là vì chúng ta, tại sao phải nói đến quyển sách đó? Quyển sách ấy là sách hay, vì chúng ta làm chứng minh, chứng minh cho bản hội tập Kinh Vô Lượng Thọ do lão Cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập, chứng minh đó là chân kinh, trong quyển kinh đó mỗi chữ mỗi câu đều là lời của Thích Ca Mâu Ni Phật nói, không có sửa đổi một chữ nào, làm chứng minh cho điều đó. Thứ hai, chứng minh Chú Giải của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, Tập Chú đó là chánh tri chánh kiến, không phải là tà sư thuyết pháp, mà là chánh tri chánh kiến. Trong đó tuyển chọn, ngài cũng là hội tập từ 83 loại kinh luận, 110 loại trước tác của Tổ sư Đại đức. Thật không dễ dàng, đó là chánh tri chánh kiến. Thứ ba, vì chúng ta mà chứng minh, hơn 20 năm nay chúng ta nương vào bản hội tập, dựa vào Chú Giải của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ để học tập. Mà người khác nói chúng ta sai rồi, không cho phép chúng ta tu, nên ngài đến làm chứng cho chúng ta là chính xác. Chúng ta y theo kinh này, y theo Chú Giải này để học tập, để tu hành cầu sanh Tịnh-độ, là thật chứ không phải giả, đến làm chứng chuyển cho chúng ta. Chúng ta hoàn toàn an tâm, dốc lòng quyết tâm, cả đời chỉ một bộ kinh này là đủ rồi.

Nếu như muốn ứng phó, như những người khác đến thỉnh giáo quý vị, Phật Pháp là gì, quý vị trả lời họ thế nào? Phía trước tôi đã nói, Phật Pháp là lìa khổ được vui. Theo Khổng Lão Phu Tử là gì? Đây là của nhà Nho, Khổng Lão Phu Tử cũng nói một câu, giống với ý nghĩa của Phật, là ‘bất diệc duyệt hồ!’ “Duyệt” đó là hỷ duyệt, vui vẻ, từ trong tâm phát ra bên ngoài, không phải từ ngoài, mà từ nội tâm phát ra ngoài. Phật Pháp cũng là vậy, từ trong tâm phát ra ngoài, niềm vui đó là tánh đức vốn có trong tự-tánh, tánh đức lưu lộ ra ngoài. Để giảng cụ thể cho quý vị, tôi giới thiệu cho quý vị một bộ sách, là một trước tác cuối cùng do lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ để lại gọi là Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm, đó là báo cáo tâm đắc cả đời học Phật cuối cùng của ngài. Báo cáo đó không dài, văn tự cũng không dài, nhưng đã bao quát toàn bộ Phật giáo, Đại-thừa Tiểu-thừa, Tông-môn Giáo-hạ, Hiển-giáo Mật-giáo, toàn bộ đều ở trong đó. Nếu quý vị học hiểu tất cả bộ đó rồi, đó gọi là Phật học khái luận, hoặc là Phật học khái yếu, thì quý vị đều hiểu được hết. Hơn nữa quý vị sẽ quyết một lòng đối với Tịnh-độ-tông, tại sao vậy? Bởi một câu Phật hiệu này, một bộ Kinh Vô Lượng Thọ này là bao quát toàn bộ rồi, quyển Báo Ân Đàm của ngài chính là giới thiệu bản hội tập, thật sự giới thiệu bản hội tập, giúp quý vị sanh niềm tin kiên cố đối với bản hội tập. Quý vị lão lão thật thật mỗi ngày niệm bộ kinh này, niệm bản hội tập, niệm một biến Kinh Vô Lượng Thọ, niệm một vạn câu Phật hiệu, thì không có một ai mà lại không vãng sanh.

Một bộ kinh không khó, đại khái người mới học mất nhiều nhất là hai tiếng đồng hồ thì niệm xong. Niệm một năm thì niệm được rất nhuần nhuyễn. Quý vị niệm được hơn 300 lần, gần như thuộc lòng rồi, thì tốc độ sẽ nhanh, sau khi niệm một năm, thì niệm một lần chỉ cần một tiếng đồng hồ. Vừa mới niệm là hai tiếng đồng hồ, sau một năm còn một tiếng đồng hồ. Niệm thêm một năm nữa, sau hai năm thì nửa tiếng đồng hồ. Cư sĩ Lưu Tố Vân làm biểu pháp cho chúng ta, cô ấy mỗi ngày niệm mười tiếng đồng hồ. Mười tiếng đồng hồ niệm bao nhiêu lần? Tôi phỏng đoán là 20 lần, cô ấy niệm một lần là nửa tiếng đồng hồ, thời gian khác thì niệm Phật hiệu. Chuyên tu Tịnh-độ, một bộ Kinh Vô Lượng Thọ, một câu A Di Đà Phật, 20 năm không gián đoạn, cô ấy có khai ngộ hay không? Khẳng định có. Cổ nhân nói “Độc thư ngàn biến, kỳ nghĩa tự kiến”, tự kiến chính là khai ngộ, chưa có đại ngộ cũng có tiểu ngộ. Tiểu ngộ thì đã đủ dùng rồi, ứng phó được tất cả người đến đặt câu hỏi, quý vị đều có thể giải đáp được hết, tiểu ngộ thì có năng lực như vậy. Còn có một vị Cư sĩ Hồ Tiểu Lâm, sáu năm gần đây ông ấy học một bộ luận, là Đại Thừa Khởi Tín Luận, đã niệm hơn ba ngàn lần. Nói với tôi, một ngàn lần trước và sau không giống nhau, một ngàn lần thứ nhất có rất nhiều chỗ ngộ, ông ấy đều hiểu hết, sau khi niệm thêm một ngàn lần nữa, thì ngộ được càng sâu càng rộng, sau ba ngàn lần gần như không có chướng ngại. Hiện nay ông ấy giảng Đại Thừa Khởi Tín Luận, tôi nghe qua hai lần, hai lần diễn giảng, giảng rất hay, trong nhà Phật tìm người giảng Đại Thừa Khởi Tín Luận, có thể đạt đến trình độ của ông ấy không nhiều, tôi chưa từng nghe nói qua. Cho nên phương pháp cổ xưa là ‘không thầy tự thông’. Chúng ta phải ghi nhớ, đó chính là chúng ta ở vào thời đại này, phải giúp đỡ chúng sanh an lạc.

Có người nước ngoài nói, tôi xem tư liệu không nhiều, tiến sĩ Toynbee của nước Anh nói, về giải quyết vấn đề của xã hội thế kỷ 21. Xã hội này là một khung cảnh hỗn loạn, có một số lãnh đạo quốc gia lúc họ gặp mặt tôi đều hỏi: thế giới này còn có hòa bình không? Câu nói này nói rất nặng, đối với thế giới này còn có hòa bình được nữa hay không, là đã mất lòng tin rồi. Khủng hoảng, đó là căn bản của khủng hoảng. Không phải từ những người bình thường hỏi tôi, mà lãnh đạo các quốc gia, từ mười năm trước. Tôi nhớ: lúc đó tôi trả lời, tôi nói quý vị làm được tốt bốn việc sau, thì thế giới hòa bình. Họ hỏi bốn việc gì? Tôi nói, việc thứ nhất, quốc gia với quốc gia, đối đãi bình đẳng, chung sống hòa thuận; việc thứ hai, chính đảng với chính đảng; việc thứ ba, dân tộc với dân tộc; việc thứ tư, tôn giáo với tôn giáo. Bốn việc này đều có thể làm được đối đãi bình đẳng, chung sống hòa thuận, thì thế giới hòa bình rồi. Họ nghe xong nói không ra lời nào, chúng tôi đã im lặng bảy, tám phút. Tôi lại nói với họ, tôi nói khó, là khó, vô cùng hóc búa, thế nhưng không phải không có phương pháp, nếu như chúng ta bắt tay từ tôn giáo, đoàn kết tôn giáo, làm cho tôn giáo trở về giáo dục, làm cho tôn giáo học tập lẫn nhau, thế là tôn giáo sẽ ảnh hưởng chính trị, sẽ ảnh hưởng chính đảng, sẽ ảnh hưởng dân tộc, có thể làm được thế giới hòa bình. Họ nghe được hoan hỷ, chúng tôi mới bắt đầu thảo luận vấn đề này, mới có đề tài để bàn.

Cho nên chúng tôi vào 18 năm trước, năm 1998, năm 1999 chúng tôi sống ở Singapore, đoàn kết 9 tôn giáo Singapore lại với nhau, làm được rất thành công. Lúc đó Tổng thống Vương Đỉnh Xương, hai vợ chồng ông, vô cùng hoan hỷ, hết sức khen ngợi việc làm của chúng tôi. Mười tám năm sau, hai vợ chồng ông ấy đều không còn nữa. Ngày nay chúng tôi về đến Toowoomba, thành phố nhỏ này của Úc, hết sức hoan hỷ, vô cùng khó có, ở đây có tất cả 17 tôn giáo, cả lớn nhỏ gồm 17 tôn giáo, đã đoàn kết lại với nhau. Thật sự giữa tôn giáo chúng ta với các tôn giáo, tôn trọng lẫn nhau, khen ngợi lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, hỗ trợ hợp tác. Lần này tôi trở về, mọi người họ tìm tôi, muốn tôi trở về xem: “Xem chúng tôi đã đoàn kết với nhau rồi, chúng tôi chung một mục tiêu, là muốn thành phố Toowoomba này, xây dựng thành một thành phố mẫu hài hòa về đa nguyên văn hóa, đa nguyên chủng tộc, đa nguyên tôn giáo số một trên thế giới”. Tốt! Ba năm gần đây, năm ngoái, năm kia, ba năm trước, thị trưởng dẫn đoàn tôn giáo chúng ta đến báo cáo ngắn ở Liên hiệp quốc. Năm ngoái tôi đã tham gia, hình như năm kia tôi cũng đã tham gia, tôi tham gia qua hai lần. Khó có được!

Thành phố này đang mở rộng, diện tích đất đai rất lớn. Đồng tu đến từ Đài Loan, thì tôi nói với họ, diện tích đất của Toowoomba gần bằng một nửa Đài Loan. Tương lai nơi này sẽ phát triển, hiện nay sân bay đã xây dựng xong rồi, tôi nghe nói nửa cuối năm nay có thể vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, tương lai sau này đến Úc, không cần phải đến Brisbane, mà đến Toowoomba, nơi đó là cửa ngõ vào nước Úc. Tương lai cư dân của thành phố này, Thị trưởng nói cho tôi biết, họ quy hoạch tiêu chuẩn là 800.000 người, một thành phố lớn như vậy. Tương lai sẽ là 800.000 người. Hiện nay công trình đường giao thông, đường ngầm, đều là lấy tiêu chuẩn 800.000 người cư trú mà thiết kế. Cho nên tương lai của thành phố này thênh thang. Tôi ở nơi đây làm báo cáo này với mọi người, hoan nghênh mọi người di dân đến nơi đây, tương lai nơi đây là Lạc Viên, vì sao vậy? Bởi thành phố hài hòa, thành phố kiễu mẫu hài hòa. Chúng ta hy vọng ngay đời này đạt được bình an, đạt được vui vẻ, đạt được hạnh phúc, đại khái đây là dẫn đầu, thành phố này là đầu tàu. Cho nên an tâm cho chúng sanh quan trọng, thường thường để trong tâm, đó là đại từ đại bi.

Thứ ba, ở đây phải xa rời, 恭敬供養自身心“cung kính cúng dường tự thân tâm”(tâm cung kính cúng dường thân mình), đó là tu thân. Trong sách Đại Học nói, 自天子以至於庶人,壹是皆以修身為本“Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn”(Từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy tu thân làm gốc). Tu thân bắt đầu từ đâu? Phải đem ý niệm cúng dường thân tâm mình buông xuống, vì đó là chướng ngại rất lớn. Trong Phật Pháp thường nói là năm loại kiến hoặc. Đầu tiên chính là thân kiến, đem thân này xem là thân mình, xem là chính mình. Con người này đến thế gian để làm gì? Vì truy cầu khoái lạc của thân tâm, thỏa mãn dục vọng của thân tâm. Ngày nay khái niệm này là khái niệm phổ biến, đã là người trên địa cầu thì đều vì khái niệm này. Khái niệm này sẽ hủy diệt chính mình, sẽ hủy diệt văn hóa của quý vị, sẽ hủy diệt địa cầu, đây không phải là tự cứu cứu tha, mà đây là tự hủy hủy tha, đáng sợ vô cùng. Hy vọng đồng học chúng ta, ở nơi đây xây dựng lòng tin. Tránh điều trái ngược lại với Bồ-đề tâm này. Ngày nay chúng ta cần thiết chính là ba điều, mà trong sách An Lạc Tập đã nói. Nương theo trí huệ, không cầu tự vui, người cầu tự vui là không có trí huệ. Vì tâm chân thành của họ bị dục vọng của họ che phủ mất, nên trí huệ không thể hiện tiền, điều họ có thể hiện tiền là phiền não, chính là: mừng, giận, thương, ghét, buồn, vui, muốn, thất tình ngũ dục, không sanh trí huệ. Cho nên muốn sanh trí huệ thì không cầu tự vui, đối với khoái lạc thân tâm đều phải buông xuống. Chúng ta cầu điều gì? Chúng ta cầu đạo. Cầu đạo với Thánh nhân, cũng chính là nếu chúng ta có đủ thời gian, thì dành toàn bộ thời gian đó để nghe học: văn hóa truyền thống, giáo huấn của ba nhà Nho Thích Đạo, phải học tập với Phật Bồ-tát. Tập trung, số người không nên đông, số ít, số ít ngay trong số ít, mà cùng chung chí hướng, cùng nhau nghiên cứu sách vở của Thánh hiền, để nâng cao cảnh giới chính mình. Bắt đầu từ quân tử, quân tử nâng lên Hiền nhân; Hiền nhân nâng lên Thánh nhân. Trong Phật Pháp từ Tiểu-thừa nâng lên thành quyền Đại-thừa, quyền Đại-thừa nâng lên thành thật Đại-thừa, là Đại-thừa thực sự, từ trong thật Đại-thừa nâng lên chính là Pháp-thân Bồ-tát, tiếp tục đi lên thì thành Phật rồi. Niềm vui đó, là chân lạc, đó là không gì vui bằng!

Cho nên giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui là Bồ-đề tâm, gặp được cơ hội này nhất định phải làm. Chúng tôi trải qua nhiều năm như vậy, cũng là cuối đời mới gặp được cơ hội này. Cơ hội này là gì? Là Hán học. Thật sự có người hiểu được, chúng tôi cùng nhau giao lưu, làm báo cáo, họ có thể tiếp nhận, có thể tin tưởng, mà còn tin sâu, chủ động mong muốn hợp tác với chúng tôi. Tôi nói họ nhiệt tâm hơn chúng tôi, chúng tôi vẫn không có nhiệt tâm như họ, được họ thúc đẩy nên chúng tôi không thể không làm, nếu chúng tôi không làm là có lỗi với họ. Đó là một vị Hiệu trưởng Đại học Anh quốc, chúng tôi muốn hợp tác để mở viện Hán học, đào tạo gì? Đào tạo một tốp học viên. Những học viên này làm gì? “Vị vãng Thánh kế tuyệt học, vị vạn thế khai thái bình”, là Bồ-đề tâm. Chúng ta muốn tìm người cùng đồng chí hướng như vậy, số người không cần nhiều; ba người, năm người là không ít; một trăm, hai trăm cũng không tính là nhiều. Tìm một tốp người như vậy, tốp người này học chữ Hán, học Văn Ngôn. Sách học chúng tôi tuyển chọn là Quần Thư Trị Yếu, Quốc Học Trị Yếu. Hai bộ sách này là phần tinh hoa trong Tứ Khố, cũng là tinh hoa của truyền thống văn hóa Trung Hoa, chúng tôi dùng đó làm sách học. Thâm nhập kinh luận ấy, sau này đối với bộ sách Tứ Khố, thì có năng lực đọc, có năng lực giảng giải, có năng lực dịch thành văn bạch thoại hiện đại, từ văn bạch thoại hiện đại dịch thành văn tự của mỗi quốc gia trên toàn thế giới, để nhân dân mỗi một quốc gia đều có thể đọc được trí huệ của Cổ Thánh Tiên Hiền Trung Hoa, để họ làm sao thực hiện cuộc đời hạnh phúc mỹ mãn, gia đình vui vẻ, sự nghiệp thuận lợi, xã hội an định, quốc gia giàu mạnh, thế giới an định hài hòa, vĩnh viễn sẽ không có chiến tranh. Chúng tôi gặp được duyên này, thì không thể không làm. Là an chúng sanh tâm, đem tâm cúng dường thân mình buông xuống hoàn toàn, không nên đi so đo điều này, thì sẽ vui vẻ không gì so sánh được. Giống như Nhan Hồi, cuộc sống thanh bần, người khác cho rằng rất khổ, nhưng ông ấy vui vẻ vô cùng, ngài Phu Tử khen ngợi ông ấy. Đó đều là người thực sự phát Bồ-đề tâm, mới có được thọ dụng như vậy. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

( Hết tập 312)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Chóng viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.